Thứ Ba, 26/9/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam

1. Lực lượng Cảnh sát nhân dân ra đời, bảo vệ Đảng, chính quyền cách mạng còn non trẻ và cùng toàn dân kháng chiến chống Pháp

Ngày 19/8/1945, cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thành lập tại Hà Nội và lần lượt tại các địa phương trong cả nước. Cùng với việc đập tan các cơ quan đàn áp của địch và thiết lập chính quyền cách mạng, các tổ chức đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân ra đời: Ở Bắc Bộ thành lập Sở Liêm phóng Bắc Bộ; ở Trung Bộ thành lập Sở Trinh sát và ở Nam Bộ thành lập Quốc gia tự vệ cuộc (bao gồm cả lực lượng Trinh sát và Cảnh sát). Tuy tên gọi ở ba miền khác nhau, nhưng các tổ chức đầu tiên của Công an nhân dân đều có chung nhiệm vụ là trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Ngày 19/8/1945, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam chính thức được thành lập, theo đó, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã ra đời và trở thành lực lượng nòng cốt, xung kích trong việc giữ gìn trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng.

Ngay sau khi được thành lập, lực lượng Cảnh sát nhân dân tại các địa phương trong cả nước đã phối hợp với lực lượng Liêm phóng trấn áp bọn phản cách mạng, bọn lưu manh côn đồ, giữ gìn trật tự trị an ở các thành phố, thị xã, bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ căn cứ về Hà Nội. Đặc biệt, lực lượng Cảnh sát đã phối hợp chặt chẽ cùng các lực lượng khác bảo vệ tuyệt đối an toàn Lễ Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 02/9/1945 tại Thủ đô Hà Nội. Mặc dù mới được thành lập, song lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng đã nhanh chóng ổn định đi vào hoạt động với vai trò là lực lượng chuyên chính của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống các thế lực phản động và bọn tay sai của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chính quyền Tưởng Giới Thạch, âm mưu gây bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng, bọn lưu manh côn đồ, cướp của, giết người, làm mất trật tự trị an; đã điều tra khám phá hàng trăm vụ cướp của, giết người, bắt cóc tống tiền; triệt phá các tổ chức do bọn phản động lập ra để chống phá cách mạng nước ta. Nổi bật nhất là chiến công của Nha Công an Trung ương (gồm lực lượng Trinh sát và Cảnh sát) trong vụ án lịch sử số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội) ngày 12/7/1946 phá tan tổ chức phản động nguy hiểm cấu kết với thực dân Pháp đảo chính lật đổ chính quyền cách mạng; điều tra khám phá vụ thảm sát cả nhà chủ hiệu kim hoàn Vĩnh Tường ngày 03/8/1946 ở thành phố Hải Phòng do binh lính Pháp gây ra; cùng các lực lượng khác bảo vệ an toàn cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên trong cả nước tháng 01/1946.

Ngày 21/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 23/SL-LCT hợp nhất các Sở Cảnh sát, Sở Liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ. Đây là mốc son lịch sử quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng.

Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị tại làng Vạn Phúc (Hà Nội), quyết định phát động cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Căn cứ vào tương quan lực lượng địch - ta, Hội nghị khẳng định: “Cuộc kháng chiến của nhân dân ta trường kỳ nhưng nhất định thắng lợi”. Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, mệnh lệnh chiến đấu đã được phát ra qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân nói chung, Cảnh sát xung phong và Công an trật tự nói riêng là di chuyển hồ sơ, tài liệu, di chuyển trại giam; bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bảo vệ các cơ quan, kho tàng của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; theo dõi và đẩy đuổi các đối tượng nghi vấn ra khỏi khu vực chiến sự; bảo vệ bí mật quân sự và tham gia chiến đấu tiêu hao sinh lực địch; đồng thời tăng cường công tác nắm tình hình hoạt động quân sự của địch, hoạt động của bọn phản cách mạng, chuẩn bị đưa người trở về vùng địch tạm chiếm để hoạt động.

Ngày 19/01/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Phá hội tề”. Trong phong trào phá tề trừ gian đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ Công an trong lòng địch. Cũng trong năm 1948, thực hiện chủ trương “Bao vây kinh tế địch” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Công an trật tự các tỉnh đã tăng cường công tác bao vây, cô lập kinh tế địch đạt kết quả tốt. Điển hình như Công an các tỉnh Phú Thọ, Phúc Yên, Hưng Yên, Hải Dương... lập nhiều hàng rào bao vây kinh tế địch, các trạm kiểm soát buôn lậu; phục vụ ổn định kinh tế tại các vùng tự do.

Cùng với các hoạt động bao vây kinh tế địch, lực lượng Trị an hành chính đã đẩy mạnh đấu tranh chống tội phạm kinh tế, phát hiện bắt hàng trăm vụ buôn lậu, đầu cơ tích trữ, khám phá nhiều vụ án lớn như: Công an Lạng Sơn bắt 5 vụ buôn vàng; Công an Hải Dương bắt 24 vụ trốn thuế, thu giữ 5.000 mặt hàng; Công an Nghệ An, Hà Tĩnh khám phá vụ lấy cắp 17 vạn đồng (tiền Chính phủ kháng chiến), 5 vụ tiền giả; Công an Hà Giang khám phá 15 vụ tham ô, trong đó có vụ tham ô 1.000 tấn muối... Chiến công của lực lượng Trị an hành chính trong bao vây kinh tế địch, phòng chống tội phạm, bảo vệ kinh tế lúc này có ý nghĩa hết sức quan trọng, hạn chế hao hụt ngân khố quốc gia để tập trung cho kháng chiến, góp phần cô lập địch để tiêu diệt địch.

Đầu năm 1950, tình thế ở chiến trường lúc này đang có lợi cho ta, ta càng đánh càng mạnh, vùng tự do càng được mở rộng, yêu cầu công tác bảo vệ căn cứ, vùng tự do và nội bộ càng cao, nhiệm vụ nắm tình hình địch, phục vụ tổng phản công đòi hỏi cấp thiết. Chính vì vậy, ngày 05/5/1950 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có Chỉ thị số 10/CT-TW về “Đảng lãnh đạo Công an” nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Công an. Thực hiện chỉ thị này, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương đều quan tâm lãnh đạo công tác Công an; chỉ đạo các cơ quan, ban ngành phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, cử một số cán bộ Đảng có năng lực tăng cường cho ngành Công an. Tiếp đó, ngày 12/5/1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 05-CT/TW quy định nhiệm vụ và tổ chức Nha Công an Việt Nam - Đây là Chỉ thị quan trọng để xây dựng ngành Công an phục vụ công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, làm nền tảng xây dựng ngành Công an sau này. Được tăng thêm sức mạnh tinh thần, nhiều cán bộ, chiến sĩ Công an đã nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm, kiên cường, giữ vững khí tiết của người Công an cách mạng, không hề khai báo khi bị địch bắt, tra tấn vô cùng dã man; tiêu biểu như Anh hùng liệt sỹ Trần Thành Ngọ (Hải Phòng), Nguyễn Văn Dưỡng (Lạng Sơn), Bửu Đóa (Khánh Hòa), Bùi Thị Cúc (đội viên Công an xung phong Hưng Yên)... Những gương sáng đó đã tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân nói chung và lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng qua những chặng đường lịch sử.

Ở hậu phương, lực lượng Công an trật tự đã giải quyết tốt nhiều vấn đề về trật tự an toàn xã hội. Thực hiện Thông tư 118/TT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chống lưu manh, trộm cắp, Công an Nghệ An đã khám phá 4 vụ giết người cướp của, 3 vụ in, tiêu thụ tiền giả, 40 vụ cướp, hàng chục vụ biển thủ công quỹ, khám phá vụ trộm 17 vạn đồng tiền công quỹ ở Sở Tài chính Trung Bộ. Công an các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang khám phá nhiều vụ trộm cắp, cướp của, hàng chục vụ tham ô, nhiều vụ buôn bán thuốc phiện, vũ khí... Trong công tác giữ gìn trật tự, chống lưu manh, trộm cắp, lực lượng Công an đã tổ chức nhân dân tham gia đấu tranh, xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật. Nhiều đồn, trạm Công an đã tổ chức các buổi “Nhân dân phê bình Công an” để lắng nghe ý kiến của nhân dân, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, đồng thời tăng cường mối quan hệ giữa Công an nói chung, nhất là lực lượng Công an trật tự nói riêng với nhân dân để làm tốt công tác giữ gìn an ninh, trật tự.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt. Để phục vụ có hiệu quả cho công cuộc kháng chiến đòi hỏi Công an phải tăng cường lực lượng và củng cố về mặt tổ chức; ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 141/SL-LCT, đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ bộ Công an, trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Sắc lệnh đã quy định nhiệm vụ của Công an thời kỳ này, trong đó có nhiệm vụ của Trị an dân cảnh, Trị an hành chính là: Bài trừ lưu manh trộm cắp, bài trừ tệ nạn xã hội và giữ gìn trật tự an ninh trong nhân dân; quản trị các trại giam, giáo dục cải tạo phạm nhân. Sắc lệnh cũng quy định tổ chức, bộ máy của Thứ bộ Công an gồm 7 đơn vị trực thuộc Bộ, trong đó có Vụ Trị an hành chính; các khu, sở, ty Công an và hệ thống tổ chức Công an cấp huyện, cấp xã. Tại kỳ họp từ ngày 27/8 đến ngày 29/8/1953, Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết đổi tên Thứ bộ Công an thành Bộ Công an. Đây là sự kiện đánh dấu bước trưởng thành, lớn mạnh của Công an nhân dân Việt Nam, trong đó có lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Tháng 11/1953, Trung ương Đảng chính thức thông qua cương lĩnh cải cách ruộng đất và được Quốc hội nhất trí tán thành ngày 01/12/1953. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, ngành Công an đã cử cán bộ tham gia phát động quần chúng cải cách ruộng đất, lực lượng Trị an hành chính có nhiệm vụ: “Kết hợp phát động quần chúng thu thập và kiểm soát vũ khí, chỉnh đốn và xây dựng Công an xã, tiến hành lập danh sách hộ khẩu trong xã, theo dõi sự biến chuyển về nhân khẩu (số người đến hoặc đi khỏi xã). Trong quá trình tổ chức thực hiện, lực lượng Trị an hành chính đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao phó.

Thất bại trên các chiến trường Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc, Thượng Lào, thực dân Pháp tập trung quân chiếm cứ điểm Điện Biên Phủ. Lực lượng Trị an hành chính cùng các lực lượng khác của ngành Công an được giao nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ chiến dịch Điện Biên Phủ. Với quy mô và tầm quan trọng của chiến dịch, ngành Công an đã thành lập “Ban công tác tiền phương” nằm trong “Hội đồng cung cấp mặt trận” để trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ chiến dịch; lực lượng Trị an hành chính đã tham gia bảo vệ chiến dịch, phát hiện, bắt giữ, xử lý hàng chục vụ phạm pháp hình sự, bắt những tên lưu manh, trộm cắp hàng hóa, tài sản của Nhà nước, bắt bọn buôn lậu lợi dụng con đường dân công để làm ăn phi pháp; đồng thời cùng với các lực lượng khác của ngành Công an đã làm tốt công tác bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bảo vệ các cơ quan đầu não chỉ đạo kháng chiến.

Ngày 07/5/1954, chiến thắng Điện Biên Phủ buộc Chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán tại Giơnevơ và ký kết với Chính phủ Việt Nam “Hiệp định đình chiến, lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Trải qua 9 năm kháng chiến đầy hy sinh gian khổ, lực lượng Trị an hành chính, tiền thân là Cảnh sát xung phong, Công an Trật tự đã bảo vệ vững chắc trật tự trị an ở vùng căn cứ, vùng tự do, chiến đấu diệt địch, phá tề, phục vụ bảo vệ an toàn các chiến dịch, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.

2. Lực lượng Cảnh sát nhân dân bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước ta tạm chia thành 2 miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa; miền Nam tiếp tục công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ, thực hiện thống nhất nước nhà. Trước nhiệm vụ mới của cách mạng, lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng Trị an hành chính nói riêng đã tiến hành đẩy mạnh các biện pháp quản lý hành chính, đấu tranh chống bọn phản cách mạng và bọn tội phạm hình sự, giữ vững an ninh, trật tự xã hội.

Ngày 17/02/1955, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 9 đã khẳng định “Nếu không đẩy mạnh công tác trị an thì không thể mau chóng ổn định trật tự xã hội”. Hội nghị cũng xác định những nhiệm vụ công tác cơ bản của lực lượng Trị an hành chính, đẩy mạnh công tác trị an ở nông thôn, thành phố, đảm bảo giữ gìn trật tự, trị an xã hội trong tình hình miền Bắc mới được giải phóng.

Ngày 28/7/1956, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 982/TTg về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an, theo đó lực lượng Trị an hành chính các cấp cũng đổi tên thành Cảnh sát nhân dân. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng Cảnh sát nhân dân về mặt tổ chức, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, xứng đáng là công cụ chuyên chính sắc bén của Đảng.

Tháng 11, 12/1959, lực lượng Cảnh sát cùng các lực lượng khác của Công an nhân dân đã phối hợp với Quân đội nhân dân mở chiến dịch đập tan âm mưu gây bạo loạn, cướp chính quyền tại tỉnh Hà Giang, làm tan rã lực lượng phản động gồm 1.112 tên phỉ, tiêu diệt và bắt sống 152 tên, gọi hàng 139 tên, thu 335 súng các loại. Lực lượng Cảnh sát đã cùng lực lượng An ninh đấu tranh bắt gọn hầu hết các toán gián điệp, biệt kích của Mỹ, ngụy tung ra phá hoại miền Bắc, bắt giữ 463 tên, thu nhiều tấn vũ khí, chất nổ, phương tiện hoạt động; bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ sở kinh tế, cơ quan, xí nghiệp, các công trình quốc phòng, an ninh, công trình văn hóa - xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân; tổ chức cho nhân dân đi sơ tán khỏi vùng có chiến sự ác liệt. Đấu tranh, trấn áp, bắt giữ, xử lý hàng trăm tên tội phạm nguy hiểm, kịp thời dập tắt các vụ cháy lớn, làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại.

Công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong thời kỳ này luôn được Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng, củng cố, phát triển. Để xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân thành một lực lượng vũ trang thuộc Bộ Công an, thừa hành pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống bọn phản cách mạng và tội phạm khác, giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền lợi hợp pháp của công dân, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, nhằm góp phần đảm bảo cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước ở miền Nam; ngày 20/7/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 34/LCT công bố Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc sỹ quan, hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân. Đây là mốc son quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Từ đó đến nay, ngày 20/7 hàng năm trở thành Ngày truyền thống của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam.

Ngày 24/7/1963, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 85/NQ-BCT về “Nâng cao ý thức, trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ Công an có Chỉ thị số 1623 P7B/G78 về xây dựng cơ quan xí nghiệp, đơn vị an toàn. Lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tích cực thực hiện cuộc vận động “3 xây, 3 chống”, khám phá nhiều vụ tham ô lớn. Trước tình hình tham ô xảy ra nghiêm trọng trong ngành thương nghiệp, Công an các địa phương đã hỗ trợ ngành thương nghiệp trong công tác bảo vệ, kiến nghị, bố trí cán bộ tốt vào các khâu chủ chốt, tham mưu cho cấp ủy Đảng củng cố thương nghiệp, bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể.

Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, lực lượng Công an nhân dân nói chung, Cảnh sát nhân dân nói riêng đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, bảo vệ an toàn các kế hoạch, địa điểm chuyển quân, chuyển hàng, kho tàng, bến bãi và các cuộc hành quân của bộ đội ta vào chiến trường miền Nam. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân ngày đêm bám đất, bám đường, bắn trả máy bay địch, nguỵ trang, phân tán xe cộ, bảo vệ vật tư, phương tiện vận tải chi viện cho tiền tuyến; các chiến sĩ phòng cháy, chữa cháy, cảnh sát khu vực, cảnh sát giao thông... quên mình trong lửa đạn để cứu người, cứu tài sản là những tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” sử dụng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã mưu trí dũng cảm, không sợ hy sinh, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ dưới nền bom đạn, cứu chữa tài sản của nhà nước, tài sản và tính mạng của nhân dân. Điển hình: Đội Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Hạ Long trong 2 năm 1965, 1966 đã cứu chữa 22 vụ cháy, trong đó 8 vụ cháy do địch ném bom, bắn phá gây ra, cứu được hàng trăm tấn xăng, nhiều hầm lò sản xuất, nhiều tài sản giá trị khác. Ngày 19/6/1966, máy bay Mỹ ném bom bắn phá kho xăng Đức Giang (Hà Nội), xăng dầu bốc cháy dữ dội; Công an Hà Nội cùng Cục Phòng cháy chữa cháy điều động các lực lượng phòng cháy, chữa cháy ở các địa phương lân cận, cùng với Quân khu Thủ đô, nhân dân vùng Gia Lâm quyết chiến với giặc lửa; một thời gian vật lộn với khó khăn, đối mặt với cái chết, các lực lượng chữa cháy đã dập tắt được vụ cháy, cứu được 12 bồn xăng và hàng nghìn phuy xăng …

Cuối năm 1965, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về Giao thông trật tự, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các tỉnh, thành phố thuộc địa bàn trọng điểm đưa lực lượng Cảnh sát giao thông bám chốt, bám đường suốt ngày đêm; bom đạn quân thù không khuất phục được ý chí kiên cường của Cảnh sát giao thông với quyết tâm bảo đảm thông đường, thông xe vì tiền tuyến gọi, vì miền Nam thân yêu. Điển hình như đồng chí Hoàng Hữu Nờ, Chỉ huy Đồn 84 Quảng Bình, đồng chí Nguyễn Tiến Tuẫn, Tiểu đội trưởng Tiểu đội Cảnh sát giao thông ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh…

Cùng với các lực lượng khác, Cảnh sát khu vực có vai trò rất quan trọng, đóng góp nhiều công sức, kể cả tính mạng vào công tác phòng không nhân dân, chống chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa của kẻ thù. Dưới làn bom của giặc Mỹ, các đồng chí khu vực không quản ngại hy sinh giúp đỡ các cụ già, em nhỏ, người tàn tật, gia đình neo đơn di chuyển đến nơi an toàn, tuần tra canh gác, giữ gìn trật tự, bảo vệ tài sản công cộng, tài sản của nhân dân, nhiều đồng chí đã dũng cảm cứu chữa những người dân bị thương, bị sập hầm, bị cháy nhà, giải quyết hậu quả sau những trận ném bom... Đặc biệt có đồng chí lấy thân mình che bom đạn cho dân, như Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Uân (Hà Nội); Anh hùng Hồ Bá Thọ, hàng chục lần lấy thân mình làm thang cho các cháu học sinh K8 lên xuống xe và xông pha trong lòng bom đạn, hướng dẫn các cháu vào nơi trú ẩn an toàn.

Ngày 16/4/1972, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2; chúng sử dụng hàng trăm lượt máy bay và tàu chiến bắn phá các địa phương ven biển, dùng B52 ném bom rải thảm các thành phố, thị xã từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh. Đặc biệt, ngày 18/12/1972, Đế quốc Mỹ đã dùng máy bay B52 ném bom rải thảm vào Thủ đô Hà Nội và TP Hải Phòng suốt 12 ngày đêm. Lực lượng Cảnh sát nhân dân đã vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm, cùng các lực lượng khác vừa chiến đấu đánh trả máy bay địch, vừa tích cực hướng dẫn nhân dân trú ẩn, cứu thương, đưa nhân dân đi sơ tán, bảo vệ tài sản của Nhà nước và tài sản của nhân dân, giữ vững an ninh, trật tự, góp phần vào thắng lợi của trận “Điện Biên phủ trên không”.

Tháng 3/1975, quân và dân miền Nam liên tiếp giành được thắng lợi  trong chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và một số vùng ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam bộ, hình thành thế bao vây Sài Gòn. Ngày 31/3/1975, Hội nghị Bộ Chính trị nhận định thời cơ giải phóng Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi, toàn quân ta cần “Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất trong tháng 4/1975, không thể chậm được”. Cùng với cả nước tập trung huy động nhân lực, vật lực cho ngày thống nhất đất nước, gần 3.000 cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân chi viện cho miền Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực vào chiến thắng lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, lực lượng Cảnh sát nhân dân cùng lực lượng An ninh đã nhanh chóng tiếp quản và tích cực lập lại trật tự xã hội, bảo vệ an ninh chính trị, ổn định đời sống của nhân dân ở các tỉnh, thành phố vừa mới giải phóng.

3. Lực lượng Cảnh sát nhân dân đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hòa bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiệm vụ đặt ra cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này là phải nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30, lực lượng Cảnh sát nhân dân ở miền Bắc tiếp tục tăng cường hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ cho Công an các Sở, Ty ở miền Nam, tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự ở vùng mới giải phóng.

Ngày 02/12/1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 31/NQ-TW về nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Nghị quyết chỉ rõ: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, sử dụng đồng bộ mọi biện pháp nhằm tích cực xây dựng, chủ động phòng ngừa, chủ động tiến công và tiến công liên tục, tiến công để làm chủ, làm chủ để tiến công, nhằm tiêu diệt và làm tan rã bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác”. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng An ninh nhân dân truy quét tàn quân ngụy, trấn áp các tổ chức phản động như: Vụ “Mặt trận quốc gia giải phóng Việt Nam” (7/1982); tổ chức “Lực lượng dân quân phục quốc” ở thành phố Hồ Chí Minh; tổ chức “Sư đoàn Thanh Long - Long Thoại” ở Hậu Giang; tổ chức phản động trong Viện hóa đạo Ấn Quang... và hàng trăm tổ chức phản động khác.

Từ năm 1980 - 1985, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã bắt 192.504 tên (30% là lưu manh chuyên nghiệp), triệt phá 13.001 băng ổ nhóm, trong đó có 81 băng cướp của giết người, 60 băng cướp của tống tiền, điển hình như: băng cướp do tên Nguyễn Văn Sơn, tức “Sơn Dứa” cầm đầu, chuyên cướp trên tàu hỏa (02/1980); băng cướp gồm 20 tên do Nguyễn Khắc Lễ cầm đầu (8/1982); băng cướp do tên Võ An Khê cầm đầu ở An Giang (3/1983); băng cướp do tên Trần Văn Tuyến cầm đầu ở Hải Phòng (3/1983); băng cướp do tên Nguyễn Trung Thành cầm đầu ở Nghĩa Bình (12/1984); băng cướp do tên Nguyễn Văn Nghĩa cầm đầu ở Hà Nội (2/1985)...

Thực hiện Nghị quyết 128/HĐBT ngày 02/8/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về các biện pháp cấp bách bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã đấu tranh có hiệu quả với bọn tội phạm kinh tế, tập trung vào các ngành trọng điểm là giao thông vận tải, vật tư, lương thực, chú trọng bảo vệ các mặt hàng thiết yếu như lương thực, xăng dầu, phân bón, thuốc chữa bệnh, vật tư quý hiếm, lập lại trật tự kinh tế và ổn định trật tự an toàn xã hội; tổ chức nhiều đợt tấn công truy quét bọn buôn lậu hoạt động trên tuyến biên giới Tây Nam. Kết quả: Lực lượng Cảnh sát đã điều tra khám phá, xử lý 76.389 vụ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, thu nhiều hàng hóa, tài sản có giá trị lớn.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), lực lượng Cảnh sát nhân dân và lực lượng An ninh đã nắm chắc tình hình, đấu tranh có hiệu quả với bọn Fulro. Tiểu đoàn I, Cục Cảnh sát Bảo vệ được thành lập, trực tiếp chiến đấu chống bọn Fulro, phối hợp chặt chẽ với lực lượng an ninh, làm tốt công tác dân vận, trực tiếp chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, đã đánh 2.025 trận, tiêu diệt 2.435 tên, bắt sống gần 3.000 tên, kêu gọi 9.546 tên ra trình diện. Sau hơn 10 năm chiến đấu ở vùng rừng núi Tây Nguyên, cán bộ, chiến sĩ lực lượng Cảnh sát nhân dân đã góp phần quan trọng vào chiến công chung, tiêu diệt và làm tan rã bọn Fulro, tạo nên bước chuyển biến tích cực trên mặt trận an ninh, trật tự ở địa bàn Tây Nguyên. Đảng, Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Tiểu đoàn I và liệt sỹ Lưu Thế Hà (cán bộ Tiểu đoàn I).

Thực hiện chủ trương của Nhà nước về quản lý nhân khẩu và cấp giấy chứng minh nhân dân thống nhất trong cả nước, với quyết tâm cao, chỉ trong thời gian ngắn, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã hoàn thành công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân cho đồng bào miền Nam, phục vụ kịp thời nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển xã hội. Thông qua công tác quản lý hành chính, đã phát hiện 31.740 đối tượng hình sự, 253.730 đối tượng chính trị, trên 117.229 đối tượng nguỵ quân, nguỵ quyền trốn trình diện, cải tạo; thu hồi hàng vạn khẩu súng quân dụng, đạn dược, thuốc nổ, phương tiện chiến tranh.

4. Lực lượng Cảnh sát nhân dân tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới của đất nước.

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc, nhằm đưa nước ta vượt qua khó khăn, khủng hoảng, tiếp tục đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động ráo riết tiến hành chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ, nhằm phủ định sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; triệt để lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo chặt chẽ, trực tiếp của Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã đổi mới toàn diện các mặt công tác, xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, theo hướng tập trung thống nhất, chuyên sâu, tăng cường nghiệp vụ cơ bản; kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ theo chức danh tiêu chuẩn nghiệp vụ; đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, gắn việc học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân với công tác xây dựng Đảng, chấn chỉnh tác phong, phương pháp làm việc, kiên quyết thanh loại những cán bộ sa sút ý chí chiến đấu, năng lực kém và vi phạm phẩm chất đạo đức... Tập trung tấn công liên tục bọn tội phạm hình sự, nhất là các loại đối tượng nguy hiểm, phấn đấu làm giảm trọng án, đấu tranh ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tham nhũng, buôn lậu; củng cố, nâng cao chất lượng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát, điều tra, công tác khoa học hình sự, hồ sơ nghiệp vụ và các biện pháp quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội... cùng các lực lượng khác trong ngành đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ vững trật tự an toàn xã hội, góp phần vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Công tác xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân thời kỳ này luôn được Đảng, Nhà nước và Bộ Công an quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển: Năm 1989 Hội đồng Bộ trưởng có Nghị quyết quy định tổ chức, bộ máy của Bộ Nội vụ, trong đó có Tổng cục Cảnh sát nhân dân và đã được củng cố, phát triển trong những năm sau đó, đến ngày 15 tháng 9 năm 2009, Chính phủ có Nghị định số 77 /NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu, tổ chức của Bộ Công an. Theo Nghị định này, hệ thống tổ chức, bộ máy của lực lượng Cảnh sát nhân dân được bố trí theo hướng tập trung, chuyên sâu, nhằm mang lại hiệu quả thiết thực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Từ năm 2010, lực lượng Cảnh sát đã tập trung triển khai quyết liệt có hiệu quả các mặt công tác theo mô hình tổ chức mới với 03 Tổng cục và 01 bộ tư lệnh: Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm; Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp; Bộ tư lệnh Cảnh sát cơ động. 

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tham mưu giúp Đảng, Nhà nước và cấp uỷ, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện có hiệu quả “Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm”, “Chương trình quốc gia phòng, chống ma tuý”; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nghiệp vụ bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội trọng đại của đất nước; chủ động phòng ngừa và liên tục tấn công, truy quét tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm mới có yếu tố nước ngoài, tội phạm công nghệ cao...; ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, từng bước thiết lập lại trật tự an toàn giao thông, làm tốt công tác phòng chống cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo chiếm đoạt tài sản... góp phần tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và quá trình hội nhập kinh tế thế giới.

Lực lượng Cảnh sát nhân dân đã triển khai quyết liệt, có hiệu quả nhiều vấn đề cơ bản, chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, liên tục triển khai các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm trên phạm vi toàn quốc và theo các tuyến, địa bàn trọng điểm, qua đó đã kiểm soát và kiềm chế được tình hình phức tạp, tạo được chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực công tác, làm chuyển biến những địa bàn phức tạp; nhiều chuyên án, vụ án lớn về hình sự, kinh tế, ma túy được khám phá để lại dấu ấn đẹp trong nhân dân, được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đánh giá cao.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt và đầy nguy hiểm với bọn tội phạm hình sự, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát đã thể hiện tinh thần mưu trí, dũng cảm, kiên quyết tấn công tội phạm với nhiều cách đánh táo bạo và sáng tạo, triệt phá nhiều tổ chức tội phạm nguy hiểm, hoạt động theo kiểu “Xã hội đen”, như: Vụ bắt băng cướp do tên Nguyễn Quốc Trung (tức Trung “thộn”) cầm đầu, đã gây ra các vụ giết người, cướp của ở địa bàn Hà Nội; vụ bắt gọn băng tội phạm hình sự ở nhà hàng 62 Trần Phú - Khánh Hòa; vụ triệt phá băng cướp “Bạch Hải Đường”; vụ “Sáu Râu”; vụ “Phước tám ngón”; vụ Đỗ Ngọc Khuê; vụ tiêu diệt tên cướp Đỗ Cao Thắng ở Lạng Sơn; phá băng cướp 11 tên do tên Đỗ Thanh Bình cầm đầu, gây ra 62 vụ cướp trên tuyến đường liên tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Tiền Giang, hay vụ “Khánh trắng”, “Phúc bồ” ở Hà Nội; vụ “Cu Nên” ở Hải Phòng; vụ “Minh samasa” ở Bà Rịa - Vũng Tàu; vụ “Năm Cam” ở Thành phố Hồ Chí Minh; vụ “Hoàng lựu đạn” ở Đồng Nai... Đặc biệt trong những năm gần đây, tính chất của tội phạm hình sự manh động hơn, nhiều vụ ngang nhiên, công khai, hành vi gây án dã man, tàn bạo, trắng trợn thể hiện những vấn đề đáng báo động về kỷ cương xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân, đã được lực lượng Cảnh sát nhân dân điều tra, khám phá kịp thời, như chuyên án 811CG khám phá vụ thảm sát 4 người, cướp tiệm vàng ở Bắc Giang; vụ giết 3 người cướp tài sản ở Hà Giang; chuyên án triệt phá băng nhóm gây ra 8 vụ cướp tiệm vàng ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam; triệt phá băng nhóm Phương Linh hột ở Quảng Ninh, băng nhóm “Tùng gà” ở Bình Dương, “Hưng vườn điều” và “Long Thanh” ở Đồng Nai...

Tình hình tội phạm ma túy ở nước ta tiếp tục diễn ra gay gắt và phức tạp, trở thành hiểm họa của toàn xã hội, lượng ma túy thẩm lậu vào nước ta vẫn rất lớn, phương thức thủ đoạn hoạt động của loại tội phạm này ngày càng tinh vi, xảo quyệt, manh động hơn, hầu hết có sử dụng vũ khí nóng, sẵn sàng chống trả quyết liệt khi bị phát hiện, bắt giữ, điển hình như vụ ở Hòa Bình có 3 đồng chí hy sinh, vụ ở Lạng Sơn 2 đồng chí hy sinh, 2 đồng chí bị thương, vụ ở Sơn La 1 đồng chí hy sinh, vụ ở Nghệ An 3 đồng chí bị thương, vụ ở Ninh Thuận 2 đồng chí bị thương... Lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy đã thực hiện quyết liệt các kế hoạch, biện pháp đấu tranh trên các tuyến, địa bàn trọng điểm, nâng cao hiệu quả của các đội trinh sát, duy trì giao ban với các lực lượng thông báo các phương thức, thủ đoạn mới, các loại ma túy mới để phối hợp đấu tranh có hiệu quả. Lực lượng Cảnh sát nhân dân đã thụ lý điều tra, bắt giữ hàng vạn vụ án, đối tượng tội phạm về ma túy/năm; bóc gỡ nhiều đường dây buôn bán ma túy lớn và phối hợp với các bộ, ngành tạo được phong trào quần chúng sôi nổi trong công tác phòng chống ma túy ở cộng đồng, triệt phá nhiều tụ điểm ma túy tại địa bàn cơ sở.

Hoạt động của tội phạm kinh tế, tham nhũng được che đậy dưới nhiều hình thức tinh vi, phức tạp; nhất là những năm gần đây, công tác quản lý nhà nước còn nhiều sơ hở, thiếu sót để tội phạm lợi dụng hoạt động; sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ trong các cơ quan công quyền dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu, tiếp tay cho đối tượng phạm tội; tuy công tác phòng ngừa, điều tra án kinh tế, tham nhũng còn gặp những vướng mắc, cản trở, can thiệp... Nhưng với ý chí kiên quyết tấn công tội phạm, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã phát hiện, điều tra khám phá hàng vạn vụ tội phạm kinh tế, tham nhũng, cố ý làm trái, đầu cơ, buôn lậu, kinh doanh trái phép... thu hồi tài sản trị giá hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm. Đặc biệt, các lực lượng nghiệp vụ đã điều tra, khám phá nhiều vụ án kinh tế nghiêm trọng, có tổ chức với quy mô lớn, đối tượng là người có chức vụ, có chức năng quản lý kinh tế và có cả một số đối tượng là người nước ngoài, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Điển hình như: Vụ Tân Trường Sanh, EPCO Minh Phụng; vụ cố ý làm trái đặc biệt nghiêm trọng do Lã Thị Kim Oanh cầm đầu; vụ PMU18; vụ làm giả giấy tờ lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Ngân hàng Viettinbank thiệt hại trên 4.000 tỷ đồng; vụ lừa bán 600 căn hộ Cienco 5 Land thu hơn 800 tỷ đồng; vụ Huỳnh Ngọc Sỹ nhận hối lộ tại Ban quản lý dự án Đại lộ Đông Tây Thành phố Hồ Chí Minh; Vụ Phạm Thanh Bình ở Vinalais; vụ Bầu Kiên ở ngân hàng ACB; vụ Hà Văn Thắm ở ngân hàng Đại Dương, vụ Huỳnh Thị Huyền Như ở ngân hàng Viettin Bank, Vụ Phạm Công Danh ở ngân hàng Xây dựng, Vụ Trịnh Xuân Thanh ở Công ty cổ phần xây lắp dầu khí... là những vụ án kinh tế lớn, kéo dài nhiều năm, gây thiệt hại lớn tài sản của Nhà nước.

Trong những năm gần đây, tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường diễn ra phổ biến ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội gây hậu quả, tác hại rất lớn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Đáng quan tâm là tình trạng xả thải công nghiệp không qua xử lý diễn ra nghiêm trọng; vi phạm pháp luật về vệ sinh an tòan thực phẩm diễn ra phổ biên đáng báo động, gây tâm lý lo lắng trong xã hội và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh, nhất là hoạt động buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia súc, gia cầm không qua kiểm dịch, sử dụng các chất phụ gia độc hại, không bảo đảm vệ sinh để chế biến thực phẩm, vận chuyển, giết mổ động vật hoang dã, quý hiểm, hủy hoại rừng, các khu bảo tồn thiên nhiên, khai thác trái phép tài nguyên, khoáng sản, nguồn nước ngầm... Trước yêu cầu và thực tiễn đặt ra, lực lượng Cảnh sát môi trường đã tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý; chủ động nắm tình hình, phát hiện, xử lý nhiều vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có tính cảnh báo cao, thu hút sự quan tâm của dư luận, điển hình như vụ xả thải của nhà máy bột ngọt Vedan ở Đồng Nai, vụ nhà máy Tung Kuang ở Hải Dương, vụ nhà máy rượu cồn ở Quảng Ngãi, Công ty cổ phần giấy Việt Trì ở Phú Thọ, các vi phạm xả thái làm ô nhiễm nghiêm trọng các dòng sông, kênh rạch như sông Hồng, Nhuệ, Đáy, La Ngà, Trà Khúc, Đồng Nai, Thị Vải, Tiền, Hậu, Kênh Tham Lương, Ba Bò, vụ ô nhiễm môi trường biển tại 4 tỉnh miền trung do công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp (formosa) đóng tại Vũng Áng, Hà Tĩnh gây ra…

Cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin và xu hướng gia tăng tội phạm sử dụng công nghệ cao trên thế giới, tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam tăng nhanh về quy mô và phạm vi với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tập trung là các hành vi tấn công phá hoại website; phát tán vi rút, phần mềm gián điệp thông qua mạng Internet; làm giả thẻ tín dụng, lấy cắp thông tin thẻ tín dụng để chiếm đoạt tiền; vi phạm bản bản quyền phần mềm máy tính, lừa đảo bán hàng trực tuyến, huy động vốn qua mạng, lừa đảo tin nhắn trúng thưởng, sử dụng công nghệ cao để đe dọa doanh nghiệp nhằm cưỡng đoạt tài sản... Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã được lãnh đạo các cấp quan tâm chỉ đạo, tập trung nghiên cứu, hòan chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý kết hợp với đẩy mạnh thực hiện Đề án “Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao”, bước đầu đấu tranh có hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao, nhất là các vụ việc lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử, trộm cắp thông tin thẻ tín dụng, lừa đảo qua tin nhắn, đã góp phần cảnh báo phòng ngừa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập quốc tế trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử.

Trên lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các kế hoạch, biện pháp công tác; chủ động công tác nắm hộ, nắm người, duy trì nghiêm túc công tác đăng ký, quản lý cư trú, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về trật tự xã hội. Đồng thời, chủ động đề xuất, triển khai các dự án nhằm đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư, phục vụ tích cực cho quản lý xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Cảnh sát giao thông là lực lượng nòng cốt, xung kích trên lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đã tham mưu cho Đảng, Chính phủ ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết quan trọng; phối hợp với các cấp, các ngành và vận động nhân dân tham gia thiết lập kỷ cương, trật tự an toàn giao thông; triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông; kết hợp tuần lưu, kiểm tra xử lý tại các chốt điểm, hóa trang phát hiện vi phạm; đẩy mạnh áp dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát, xử lý vi phạm an tòan giao thông đường bộ; tập trung kiểm tra, xử lý những hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông và theo các chuyên đề: Vi phạm nồng độ cồn, vi phạm về tốc độ, sử dụng giấy phép giả, vi phạm quy định an tòan đối với phương tiện thủy chở khách du lịch... góp phần đưa trật tự giao thông đi vào nề nếp, phát hiện các loại tội phạm lợi dụng phương tiện giao thông để hoạt động phạm tội. Trong công tác, chiến đấu đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu dũng cảm, nêu cao ý chí tiến công, truy bắt tội phạm, sẵn sàng hy sinh tính mạng, vì sự nghiệp bảo đảm trật tự an toàn xã hội, như gương chiến đấu của hai liệt sỹ Nguyễn Trọng Ánh và Bùi Văn Sơn (PC26 - Nghệ An), Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ngữ (PC26 - Hà Nội), Phạm Văn Chiến (Công an Hà Giang)...

Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã tập trung giải quyết những vấn đề nổi lên về cháy, nổ như kiểm tra công tác PCCC đối với công trình nhà cao tầng, phối hợp triển khai các biện pháp cấp bách phòng chống cháy rừng; điều tra cơ bản, đánh giá thực trạng công tác PCCC, cứu hộ cứu nạn tại khu công nghiệp, khách sạn, trung tâm thương mại, các cơ sở trọng điểm quốc gia tại 5 thành phố lớn; triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn cháy lớn; tăng cường kiểm tra, rà sóat, hướng dẫn công tác bảo đảm an tòan PCCC tại các cơ sở trọng điểm có nhiều nguy hiểm về cháy nổ và nơi tập trung đông người. Các đơn vị phòng cháy, chữa cháy luôn đảm bảo quân số thường trực cao, sẵn sàng chiến đấu dập tắt các đám cháy, cứu được nhiều tài sản của Nhà nước và nhân dân... Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống (04/10/1961 - 04/10/2001), lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Là một bộ phận quan trọng của lực lượng Cảnh sát nhân dân, lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp đã nêu cao tinh thần cách mạng, vượt qua khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và Bộ Công an giao phó; đã cảm hóa, giáo dục cho hàng chục vạn phạm nhân, số đông trả về địa phương đã hòa đồng cộng đồng và đóng góp tích cực cho xã hội. Đồng thời, lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp đã có đóng góp đáng kể trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương nơi đóng quân như: Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, giúp nhân dân làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng mối liên hệ mật thiết với nhân dân và chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng quân... tạo thành thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Lực lượng Cảnh sát cơ động đã thường xuyên rèn cán, luyện quân, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, thực sự là lực lượng vũ trang chiến đấu tập trung, sẵn sàng cơ động nhanh chóng, chính xác, đảm bảo ra quân là thắng lợi. Đã tuần tra canh gác bảo đảm an toàn các cơ quan đầu não, công trình trọng điểm của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam, các chuyến hàng đặc biệt, các hội nghị, sự kiện lớn của Đảng, Nhà nước...; hiện đang tích cực, chủ động xây dựng và thực hiện các phương án chống biểu tình, gây rối bất hợp pháp, bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang; tăng cường phối hợp với lực lượng Cảnh sát hình sự, Cảnh sát kinh tế và Công an các địa phương truy bắt đối tượng hình sự nguy hiểm, giải thoát con tin, cứu hộ, cứu nạn, chống khủng bố, chống không tặc và những vụ án phức tạp có quy mô lớn... nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ, không để bị động, bất ngờ trước các tình huống phức tạp. Bên cạnh đó, lực lượng Cảnh sát cơ động còn tăng cường lực lượng xuống địa bàn trực tiếp giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ... Nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập (1974 - 2004), lực lượng Cảnh sát bảo vệ (nay là Cảnh sát cơ động) đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Trên lĩnh vực hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm, từ năm 1991 lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế - INTERPOL; năm 1995, gia nhập ASEANAPOL và mở rộng quan hệ hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia. Đây là những cơ hội thuận lợi để Cảnh sát Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác với cơ quan chống tội phạm các nước, nhằm trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm, hợp tác trong điều tra tội phạm, góp phần làm cho công tác phòng, chống tội phạm của Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn. Sau hơn 25 năm hợp tác, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tiếp nhận, xử lý và trao đổi gần 50.000 lượt thông tin về tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, trong đó có 13.500 lượt thông tin liên quan đến truy nã, dẫn độ quốc tế; 14.500 lượt thông tin liên quan đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự xuyên quốc gia về buôn bán phụ nữ, trẻ em, giết nười, cướp tài sản, sử dụng giấy tờ giả để nhập cư bất hợp pháp; gần 4.000 lượt thông tin liên quan đến tội phạm kinh tế; 2.990 lượt thông tin liên quan đến tội phạm ma túy; trên 70 lượt thông tin liên quan đến tội phạm công nghệ cao và 14.000 lượt thông tin liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự.

Trước bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, hơn lúc nào hết, lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, kiên trì phục vụ sự nghiệp đổi mới. Với nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trong những năm qua đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ lực lượng Cảnh sát nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn trung thành với sự nghiệp của Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, có lối sống trong sạch, lành mạnh, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có kỷ luật chặt chẽ, không ngại hy sinh gian khổ, chiến đấu dũng cảm để bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

Tuy nhiên, trước tác động phức tạp của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và thế giới, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân vẫn còn chủ quan mất cảnh giác, trước âm mưu, hoạt động của bọn tội phạm, kém tu dưỡng rèn luyện kỷ luật đạo đức và lối sống, có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân chưa cao, trong thực thi nhiệm vụ còn có hành vi vi phạm, tiêu cực, sách nhiễu gây phiền hà cho nhân dân, thậm chí vi phạm pháp luật còn diễn ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân.

Để phát huy truyền thống tốt đẹp của lực lượng Công an nhân dân, đồng thời kiên quyết khắc phục những mặt còn yếu kém, không ngừng vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Bộ Công an đã có kế hoạch tổ chức cuộc vận động “Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, sau đó tiếp tục với các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”. Hiện nay, toàn lực lượng CSND đang tích cực thực hiện cuộc vận động “Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh, nhân văn vì nhân dân phục vụ”. Đồng thời thường xuyên củng cố, chấn chỉnh nhằm làm chuyển biến sâu rộng trong toàn lực lượng CSND về thực hiện nghiêm túc điều lệnh nội vụ Công an nhân dân, thực hiện giao tiếp ứng xử văn hóa, chấn chỉnh tư thế, lễ tiết tác phong của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân khi thi hành công vụ và quan hệ tiếp xúc với nhân dân, siết chặt kỷ cương, kỷ luật nhằm xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân chính quy, thống nhất, hiệu lực và hiệu quả.

Trải qua quá trình công tác, chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, lực lượng Cảnh sát nhân dân vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng những phần thưởng cao quý sau đây:

- 01 Huân chương Sao Vàng cho lực lượng Cảnh sát nhân dân (ngày 30/9/2003). Đây là phần thưởng cao quý nhất của Đảng, Nhà nước, là niềm vinh dự, tự hào của các thế hệ Cảnh sát Việt Nam, khẳng định công lao, thành tích, sự trưởng thành lớn mạnh và là nguồn động viên khích lệ mạnh mẽ đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng Cảnh sát nhân dân.

- 09 Huân chương Hồ Chí Minh.

- 118 tập thể và 74 cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Hàng nghìn tập thể, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc. Hàng vạn lượt tập thể và cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được tặng Huy chương các loại và Bằng khen Chính phủ.

- Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân (20/7/1962 - 20/7/1992), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công đã tặng lực lượng Cảnh sát nhân dân bức trướng mang dòng chữ “Cảnh sát Việt Nam mưu trí, dũng cảm, vì nước vì dân, quên thân phục vụ”.

 

Thanh Hương

Nguồn: Tài liệu tuyên truyền Kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân (20/7/1962- 20/7/2017) - Tổng cục Cảnh sát

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Nghiên cứu - trao đổi