Thứ Năm, 29/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Lê Duẩn - "Kiến trúc sư" của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Nhìn một cách tổng thể, với quan điểm lịch sử và khách quan, ông vẫn là một người lãnh đạo chiến tranh xuất sắc, đã có công lao to lớn với Tổ quốc và dân tộc trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Mỹ, đối thủ mạnh nhất thế giới, mạnh hơn ta gấp nhiều lần, thống nhất non sông về một mối, trong điều kiện có những thế lực không muốn Việt Nam thống nhất và tìm mọi cách ngăn cản.

Thử nhìn lại bối cảnh lịch sử ngày ấy để nhận thức sâu thêm vai trò của Lê Duẩn. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc. Lê Duẩn là nhà lãnh đạo đã sớm nhận thấy ý đồ lâu dài của các nước lớn đối với Việt Nam. Ông là tác giả của Bản Đề cương nổi tiếng về cách mạng miền Nam mà theo đó, các phong trào nổi dậy đấu tranh cho thống nhất đất nước và chống xâm lược đã nổ ra liên tục, mạnh mẽ, như những làn sóng nối tiếp nhau, chuẩn bị tư tưởng và điều kiện cho các lực lượng vũ trang tiến vào giải phóng miền Nam trong khí thế hào hùng. Các nhà nghiên cứu phương Tây đã từng gọi ông là “kiến trúc sư” của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1965, Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam với các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất thế giới. Trước khí thế như vũ bão của quân Mỹ, bạn bè trên thế giới rất lo ngại cho ta. Họ không muốn ta đương đầu và khuyên ta không nên đương đầu với Mỹ. Trong nội bộ Việt Nam cũng có những ý kiến lo ngại, chần chừ. Lý do chung nhất là sợ Việt Nam không thắng nổi, sẽ thua đau và mất lớn. Thậm chí có thể mất hết thành quả cánh mạng sau bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ và tốn nhiều máu xương để giành lại độc lập dân tộc qua cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Sau 8 năm tác chiến tại chiến trường Việt Nam, quân đội Mỹ bị buộc phải rút quân ra khỏi Việt Nam năm 1973, sau khi đọ sức quyết liệt tại chiến trường và trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tại bầu trời Hà Nội. Trong khoảng thời gian 8 năm quân đội Mỹ trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam, thì năm 1969, Bác Hồ qua đời, trong thời điểm chính giữa cuộc chiến.

Trước đó, 4 năm đầu của cuộc chiến, tuy đầu óc rất sáng suốt, nhưng sức khỏe của Bác Hồ có phần giảm sút so với trước. Người đã phân công cho đồng chí Lê Duẩn trực tiếp chỉ đạo nhiều công việc quan trọng của cuộc chiến tranh. Từ 1969 - 1973, trong 4 năm nửa sau của cuộc chiến và các chiến dịch lớn để kết thúc cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã diễn ra khi không còn Bác Hồ, người cầm lái tối cao lúc ấy là Lê Duẩn. Tiếp sau đó là cuộc chiến để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, rồi chiến tranh biên giới để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền do một âm mưu đen tối từ bên ngoài.

Hai cuộc chiến tranh biên giới ấy, Tây-Nam và phía Bắc, tôi cộng chung là một, coi như là một, bởi nó giống nhau về “tính chất”, cùng xuất phát từ một căn nguyên. Các cuộc chiến ấy đều do Lê Duẩn cầm lái. Tất nhiên bên cạnh Lê Duẩn còn có một tập thể Bộ Chính trị mạnh và nhiều tướng lĩnh giỏi, nhưng người cầm đầu vẫn giữ vai trò quan trọng nhất.

Trong chiến dịch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, có rất nhiều chuyện về tài năng xuất sắc của Lê Duẩn. Tôi xin nói về chuyện giải phóng Đà Nẵng hồi tháng 3.1975. Theo chỗ tôi biết, ngày ấy, theo kế hoạch lúc đầu, ta sẽ giải phóng toàn bộ miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1976, còn năm 1975 thì chủ yếu là giải quyết xong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, trong đó có trận lớn nhất năm 1975 là trận giải phóng Đà Nẵng, sẽ do quân chủ lực của Trung ương giải quyết. Tất nhiên trong kế hoạch có tính đến một khả năng khi tình hình diễn biến trên chiến trường cho phép thì có thể đẩy nhanh tiến độ để kết thúc vào năm 1975.

Sau khi ta giải phóng Tây Nguyên, lãnh đạo Khu ủy 5 nhận thấy thời cơ có thể giải phóng Đà Nẵng sớm hơn so với dự kiến. Khu 5 đã điện ra Hà Nội đề nghị cho phép giải phóng Đà Nẵng ngay, sớm hơn so với dự kiến ban đầu, bằng các lực lượng của địa phương là chủ yếu, có hỗ trợ của Trung ương. Lúc đầu điện ra chưa thấy các cơ quan hữu quan trả lời, nhưng vì việc gấp nên Khu ủy đã điện trực tiếp cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn. Lãnh đạo Khu 5 nhận được ngay ý kiến trả lời và chỉ đạo của ông: “Nếu thấy được thì làm đi!”.

Một câu trả lời rất ngắn gọn, rõ và dứt khoát. Ông vừa bật “đèn xanh” cho phép tấn công (“làm đi”) vào Đà Nẵng, nhưng đồng thời cũng gắn với trách nhiệm của những người cầm quân đang ở chiến trường (“Nếu thấy được”). Sự chỉ đạo đó không chỉ là tính quyết đoán, mà quan trọng hơn nữa là sự nhạy bén của một nhà lãnh đạo chiến tranh mỗi khi nhận được tín hiệu từ chiến trường. Cuộc giải phóng Đà Nẵng đã thành công nhanh chóng, không phải bằng đại binh, không tốn nhiều súng đạn, không chết nhiều người và thành phố không phải đổ nát.

Sau đó, Lê Duẩn đã đánh giá việc giải phóng Đà Nẵng sớm có ý nghĩa quyết định đối với việc giải phóng Sài Gòn và thống nhất đất nước trong năm 1975. Sau khi giải phóng Đà Nẵng, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã chỉ đạo phải “thần tốc” tiến quân vào Sài Gòn để sớm hoàn thành việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông đã chỉ đạo cho Khu ủy 5 (lúc đó cũng trực thuộc Bộ Chính trị như Trung ương Cục miền Nam) chỉ để lại một lực lượng vừa phải ở miền Trung, còn tập trung hầu hết lực lượng để tham gia giải phóng Sài Gòn ngay. Lúc ấy có một số đồng chí băn khoăn, sợ khi chúng ta tập trung tất cả lực lượng vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn, coi như bỏ ngỏ miền Trung.

Trong lúc chưa kết thúc chuyện giải phóng Sài Gòn mà địch tấn công trở lại miền Trung thì coi chừng ta lại mất miền Trung và hỏng việc. Đồng chí Võ Chí Công lúc đó là Bí thư Khu ủy Khu 5 được giao nhiệm vụ giải thích cho các đồng chí có ý kiến khác ấy theo tinh thần phân tích của Lê Duẩn là, giải quyết nhanh Sài Gòn thì đó là cách giữ miền Trung tốt nhất. Nếu chưa giải quyết xong Sài Gòn thì địch có tổ chức tấn công trở lại miền Trung không? Trong chiến tranh, khi người ta thấy có đưa quân đến cũng không giải quyết được tình hình thì họ không đến. Còn nếu thấy có triển vọng cứu vãn được tình thế thì họ mới thực hiện.

Việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được thực hiện nhanh gọn trong năm 1975 là công sức chung của toàn quân và toàn dân, trong đó đặc biệt ghi nhận tài năng xuất sắc của các nhà lãnh đạo, nhất là người đứng đầu đất nước, và các tướng lĩnh giỏi. Mặc dù kế hoạch ban đầu dự định giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước trong hai năm 1975- 1976, nhưng thật ra, ngày đó, nếu không giải quyết sớm, trong năm 1975, như thực tế lịch sử đã diễn ra, thì không biết đến bao giờ mới có thể thống nhất được đất nước.

Trong quá trình chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược và đấu tranh thống nhất nước nhà, mặc dù có sự giúp đỡ rất quan trọng, không thể phủ nhận của Liên-xô, Trung Quốc và bè bạn trên thế giới, nhưng bên cạnh đó cũng có những ý kiến rất “nặng ký” của nhân vật này, nhân vật khác, từ nơi này và nơi kia, can ngăn ta, không muốn ta đánh lớn, không muốn ta sớm thống nhất được đất nước. Họ đã từng nói “việc thống nhất đất nước của các đồng chí là việc rất lâu dài, đời con, đời cháu sẽ tiếp tục giải quyết”, “chổi ngắn không quét được xa”, “cứ kiên trì mai phục, lấy nông thôn bao vây thành thị”…

Ngay cả khi quân ta đang tiến về để giải phóng Sài Gòn, họ cũng tìm cách này, cách khác để ngăn cản. Trong khi cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của ta còn đang triển khai, chưa đến hồi kết, thì có kẻ đã thúc đẩy khẩn trương một cuộc chiến tranh khác, từ biên giới phía Tây-Nam, với âm mưu tạo ra một thế trận “cuộc thứ nhất chưa kết thúc, cuộc thứ hai đã xuất hiện” để ta không thể đối phó nổi cùng lúc hai cuộc chiến.

“Cũng may” là chúng ta đã kết thúc cuộc giải phóng miền Nam sớm hơn một năm so với dự kiến lúc đầu, khi mà cuộc chiến tranh ở biên giới chưa kịp triển khai. Mặc dù vậy, tiếng súng ở biên giới Tây Nam cũng đã bắt đầu nổ chỉ ít ngày sau khi quân ta tiến vào Sài Gòn. “Cũng may” là cách nói vậy thôi, chứ thật ra đó là sự lãnh đạo rất giỏi của Bộ Chính trị lúc đó, đứng đầu là Bí thư thứ nhất Lê Duẩn.

V.N.H

(Theo Thanh Niên Online)

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi