Thứ Ba, 26/9/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Giải pháp mới xử lý triệt để tận gốc ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam hiện nay
Ông Nguyễn Tuấn Anh - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Cải thiện Môi trường Nhật Việt (JVE)

PV: Xin ông cho biết đôi nét về công nghệ môi trường Bakture của Nhật Bản được thí nghiệm và thực tế xử lý hồ Hạnh Phúc ở Hải Phòng vừa qua?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Bakture là viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Back to the nature" có nghĩa là “Trở về với tự nhiên”. Bột Bakture được sản xuất từ các nguyên liệu thiên nhiên, chủ yếu là đá núi lửa dạng tổ ong, xốp, với công nghệ riêng biệt, giúp thúc đẩy quá trình tự làm sạch của môi trường thông qua phát huy tối đa năng lực phân giải các chất bẩn, độc hại… bởi các vi sinh vật có lợi sẵn có trong môi trường. Sản phẩm đã được cấp bằng sáng chế tại Nhật Bản và được Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) chứng nhận về công dụng làm sạch môi trường. Đặc biệt, Công nghệ Thiên nhiên Bakture sử dụng bột Bakture kích hoạt vi sinh vật có lợi sẵn có trong môi trường cần xử lý, hoạt động theo nguyên lý thông qua vòng tuần hoàn sinh thái tự nhiên để tự phân hủy các chất ô nhiễm và chất độc hại, làm cho các vi sinh vật có lợi phát triển, là chất xúc tác giúp tăng khả năng tự làm sạch sẵn có của tự nhiên.Công nghệ này đã xử lý thành công tại 300 điểm ô nhiễm trên nước Nhật Bản, bao gồm khu vực nước thải công nghiệp, cơ sở chăn nuôi, nước hồ, ao ô nhiễm do tù đọng và được giới thiệu, ứng dụng thử nghiệm tại một số nước châu Á như Ấn Độ, Lào, Inđônêxia, Thái Lan.

Lễ Triển khai Dự án xử lý ô nhiễm môi trường nước hồ hồ Hạnh phúc, quận Kiến An, TP.Hải Phòng do Nhật Bản và JVE tài trợ

 Họp báo công bố kết quả làm sạch nước hồ Hạnh Phúc bằng Công nghệ Thiên nhiên Bakture do Nhật Bản và JVE tài trợ và lần đầu tiên thực hiện tại Việt nam

TS.Hoàng Văn Kể-Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Hải phòng trao Giấy khen cho Tổ chức và các cá nhân có đóng góp cho Dự án làm sạch hồ Hạnh Phúc
Ngày 17/5/2017, Công ty Cổ phần Cải thiện Môi trường Nhật Việt (JVE) và Tập đoàn Seibu Steel Nhật Bản đã tài trợ để xử lý ô nhiễm nước hồ bằng công nghệ bột Bakture tại hồ Hạnh Phúc (quận Kiến An, TP. Hải Phòng). Đây là lần đầu tiên công nghệ xử lý ô nhiễm bằng bột Bakture được Nhật Bản tài trợ thực hiện tại Việt Nam.
Ngày 17/7/2017 vừa qua, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt nam(VUSTA), VUSTA Hải Phòng, Sở Xây dựng Hải Phòng, UBND quận Kiến An(Tp.Hải Phòng) cùng đơn vị tài trợ và thực hiện dự án là Công ty Cổ phần Cải thiện Môi trường Nhật Việt (JVE) đã phối hợp tổ chức buổi Họp báo công bố kết quả sau gần 2 tháng thử nghiệm.
PV: Tại sao Nhật Bản lại chọn hồ Hạnh Phúc làm nơi thử nghiệm Công nghệ Thiên nhiên Bakture đầu tiên, thưa ông?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Việc chọn hồ Hạnh Phúc làm nơi thực hiện tài trợ dựa trên quá trình khảo sát, đánh giá về mục đích, ý nghĩa của công nghệ. Hồ là nơi sinh hoạt cộng đồng của đông đảo nhân dân quanh vùng, tọa lạc ngay tại trung tâm, tuy nhiên nước hồ lại bị ô nhiễm. Chỉ số quan trắc môi trường nước hồ do Viện Tài nguyên và Môi trường Biển của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện ngày 12/4/2017 cho thấy, các chỉ số môi trường trước gấp 03 lần so với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt (QCVN08-MT:2015/BTNMT). Cụ thể, TSS là 126,5mg/l (QCVN08-MT:2015/BTNMT, cột B1 là 50mg/l); hàm lượng COD là 93mg/l (QCVN08-MT:2015/BTNMT, cột B1 là 30mg/l); hàm lượng BOD5 là 49,7 mg/l (QCVN08-2015/BTNMT, cột B1 là 15mg/l), Như vậy, chỉ số COD, BOD5, trong nước của hồ Hạnh Phúc đều cao gấp hơn 03 lần so với quy chuẩn cho phép. Ngoài ra, thí nghiệm trực quan cho thấy, chỉ số mùi (amoniac) được đo nhanh, mẫu nước hồ Hạnh Phúc là 6,5. Sau 10 phút cho bột Bakture vào, chỉ số đo được là 0.

PV:Xin ông cho biết kết quả xử lý bước đầu của hồ Hạnh phúc như thế nào?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Sau khi thực hiện phun rải bột Bakture vào hồ Hạnh phúc quận Kiến an, TP.Hải Phòng vào ngày 17/5/2017, chúng tôi đã cho tiến hành lấy mẫu nước gần đây nhất là vào ngày 10.7.2017 để kiểm tra hiệu quả của Bakture thể hiện qua việc các chỉ số TSS, BOD5, COD thay đổi như thế nào. Theo kết quả phân tích của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển(IMER)-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Đơn vị được giao phụ trách lấy mẫu và phân tích chỉ số, thì  chỉ số quan trắc môi trường nước hồ được thực hiện ngày 10/7/2017(Gần 02 tháng sau khi phun rải Bakture) cho thấy: TSS là 34,7mg/l (QCVN08-MT:2015/BTNMT, cột B1 là 50mg/l, cột B2 là 100mg/l) , COD là 33mg/l (QCVN08-MT:2015/BTNMT, cột B1 là 30mg/l, cột B2 là 50mg/l), BOD5 là 17,8mg/l (QCVN08-MT:2015/BTNMT, cột B1 là 15mg/l, cột B2 là 25mg/l).
Như vậy, sau gần 2 tháng kể từ lúc bắt đầu xử lý nước hồ Hạnh Phúc, các thông số môi trường đã hầu như đạt yêu cầu theo cột B2 và đang tiến tới cột B1 của QCVN. Các thông số như TSS (34,7 mg/l) đã gần đạt đến cột A2 (nước dành cho sinh hoạt <30 mg/l); Nitơ tổng và phosphat cũng đã gần đạt yêu cầu cho nước sinh hoạt; Mức độ ô nhiễm giảm đi rõ rệt; Độ trong suốt đạt đến 60 - 67 cm. Nước hầu như không bốc mùi hôi và khó chịu. Nhìn chung, quá trình xử lý của bột Bakture đạt yêu cầu về tiến độ và chất lượng. 
Ngoài các chỉ số ở trên, đánh giá về Kết quả đo pH và DO (Dessolved Oxygen) là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh, côn trùng v.v...) cho thấy Hàm lượng oxy hòa tan trong nước tăng cao DO là 7,01mg/l (QCVN08-MT:2015/BTNMT, cột B1 là ≥4mg/l, cột B2 là ≥2mg/l). Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các thủy sinh vật phát triển (theo cảm quan, hồ rất nhiều cá con).
Như vậy, chỉ sau gần 2 tháng sử dụng Bakture, các chỉ số môi trường trước khi xử lý từ gấp 3 lần so với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT) thì nay gần như đã nằm trong giới hạn cho phép B2 và gần đạt B1, mùi (amoniac) đã hoàn toàn không còn. Điều này chứng minh công nghệ của Nhật Bản có tính chính xác và hiệu quả rất cao, đặc biệt nguyên liệu hoàn toàn thiên nhiên, rất thân thiện với môi trường. Theo tính toán của các chuyên gia Nhật Bản, dự kiến đến tháng thứ 3 (17/8/2017), các thông số môi trường có thể đáp ứng hoàn toàn cột B2 và thậm chí là cả cột B1 của Quy chuẩn môi trường Việt Nam.
PV: Ông có thể cho biết hiệu quả thời gian giữ được bao lâu sau khi xử lý bằng Công nghệ Thiên nhiên Bakture?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Nguyên lý của Công nghệ Thiên nhiên Bakture này đặc biệt nhất ở chỗ đó là: Tăng khả năng “Tự làm sạch” của môi trưởng đã xử lý. Cụ thể, sau khi phun rải bột Bakture (làm từ bột đá Núi lửa, không có thành phần hóa học, bản thân nó không chứa vi sinh vật) để xử lý ô nhiễm xong ,do bột Bakture chỉ là “Chất xúc tác” để kích hoạt Vi sinh vật có lợi và phân giải các chất bẩn, độc hại khác nên bản thân bột Bakture nó tồn tại vĩnh viễn trong môi trường đã xử lý. Nó được ví như các Sư đoàn quân đội đồn trú nằm vùng tại chiến trường, khi có quân địch (vi sinh vật có hại) thì các Sư đoàn này lại ra trận (Bakture lại trỗi dậy) và tiêu diệt quân địch (vi sinh vật có hại). Do vậy, về việc hồ giữ được bao lâu sau khi làm sạch, nếu sau khi sử dụng bột Bakture làm sạch hồ và giữ không cho các nguồn xả thải đổ ( tăng thêm nhiều sư đoàn) vào hồ sẽ đảm bảo sạch vĩnh viễn, trong trường hợp các nguồn nước thải tiếp tục đổ vào (tương tự ví như là quân địch thêm nhiều sư đoàn xâm phạm vùng đất của quân ta) thì  tùy mức độ, định kỳ sau 1 năm, trên cơ sở đánh giá lại sẽ phải bổ sung thêm một lượng bột nhất định (thì ta cũng cần bổ sung thêm nhiều sư đoàn khác tới bổ trợ) để giữ sạch nguồn nước. 
PV: Nguyên lý của Công nghệ Thiên nhiên Bakture khác với công nghệ xử lý môi trường ở dạng kết tủa và hấp phụ như thế nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Sự khác biệt lớn nhất giữa Bakture với các chất xử lý môi trường ở dạng kết tủa, hấp phụ chính là kích hoạt, phát triển khả năng tự phân giải của các vi sinh vật có lợi trong môi trường. Thực tế cho thấy, kết tủa và hấp phụ thực chất là phương pháp làm lắng đọng và thu gom các chất có hại, chất bẩn. Khi quan sát bằng mắt thường thì nước có thể sạch, tuy nhiên, do các chất bẩn và chất có hại chỉ được xử lý dưới dạng kết tủa, lắng đọng, hấp phụ nên những chất bẩn vẫn còn lưu lại. Vì vậy, 2 phương pháp này chưa xử lý được tận gốc vấn đề ô nhiễm nước. Hơn nữa, các chất có hại và chất bẩn sau khi được lắng đọng và hấp phụ nếu không được xử lý thì lại chính là một trong những nguyên nhân gây phát sinh chất có hại và chất bẩn khác sau này. 
Bakture là phương pháp xử lý phân giải làm biến chất có hại và chất bẩn thành chất không có hại. Nó có khả năng tự làm sạch, giúp giảm công sức lao động vả chi phí để loại bỏ các cặn bã sau khi được cho lắng đọng và hấp phụ.
PV: Ông có thể cho biết việc ứng dụng công nghệ vào việc quan trắc sau khi xử lý ô nhiễm như thế nào?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Sau khi xử lý trực tiếp ô nhiễm môi trường tại khu vực bị ô nhiễm, tùy nhu cầu của các dự án, cơ quan quản lý mà phía Nhật áp dụng công nghệ quan trắc hiện đại. Công nghệ quan trắc này bao gồm hệ thống cảm biến đặt tại vị trí cần quan trắc, các chỉ số COD, BOD5 ,TTS, Tổng Nitơ, Tổng phốt pho,..các chỉ số khác được hệ thống tự động lấy mẫu phân tích, tự động chuyển dữ liệu qua mạng về Trung tâm phụ trách quan trắc thuộc các sở Tài nguyên môi trường, hay các phòng xử lý quan trắc của Nhà máy, …Đăc biệt, với các dự án làm sạch hồ, thì JVE có thể lắp đặt các bảng điện tử LED, kết nối trực tiếp với hệ thống quan trắc và đặt ngay tại các hồ để để nhân dân có thể trực tiếp quan sát trực quan thấy được các chỉ số của nước hồ nằm trong phạm vi thuộc QCVN.

Đồ thị thay đổi Chất lượng nước hồ Hạnh Phúc, Hải Phòng(Từ 17.5.2017 Đến ngày 10.7.2017)

 

Bảng thay đổi Chất lượng nước hồ Hạnh Phúc, Hải Phòng(Từ 17.5.2017 Đến ngày 10.7.2017

Mẫu nước hồ Hạnh Phúc trước khi xử lý dùng để phân tích  (Ngày 17.5.2017)

Mẫu nước hồ Hạnh Phúc sau khi xử lý gần 2 tháng dùng để phân tích  (Ngày 10.7.2017)

Nước hồ Hạnh Phúc trước khi xử lý (Ngày 17.5.2017)

Nước hồ Hạnh Phúc sau khi xử lý gần 2 tháng  (Ngày 10.7.2017)


PV: Ông có thể cho biết chi phí để xử lý nước bị ô nhiễm khi dùng Công nghệ Thiên nhiên Bakture so sánh với các công nghệ xử lý khác có trên thị trường đang áp dụng ở Việt Nam hiện nay?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Công nghệ Thiên nhiên Bakture khác biệt với các công nghệ khác ở 2 điểm. Thứ nhất, so sánh Công nghệ Thiên nhiên Bakture với công nghệ xây dựng nhà máy xử lý nước thải, Bakture không cần tốn chi phí xây dựng nhà máy xử lý nước thải, hệ thống ống dẫn nước thải từ nơi xử lý tới nhà máy rất tốn kém, và đặc biệt là cũng không cần tốn chi phí bảo trì như các nhà máy xử lý nước thải trong suốt thời gian hoạt động. Ví dụ khi xử lý nước sông Tô Lịch, nếu xử lý theo cách cũ thì rất tốn kém. Theo kết quả thí nghiệm trực quan bằng bột Bakture, chỉ số mùi (amoniac) của sông Tô Lịch từ 360 giảm mạnh xuống còn 0 sau 10 phút thử nghiệm. Sau đó, các nhà khoa học đã trực tiếp ngửi mùi của nước sông Tô Lịch trước và sau khi xử lý bằng bột Bakture thì thấy sau khi xử lý, không còn mùi.
Thứ hai, so sánh Công nghệ Thiên nhiên Bakture với công nghệ xử lý bằng vi sinh vật, hay các chế phẩm hóa học khác đang áp dụng tại Việt Nam, bản thân Bakture không chứa vi sinh vật nên không có khả năng gây hại cho hệ sinh thái môi trường; Không tạo ra thêm bất kỳ các loại vi sinh vật hoặc các vấn đề môi trường nào khác; Nguyên liệu hoàn toàn từ thiên nhiên, không có yếu tố hóa học nên an toàn cho tự nhiên và con người; Không có độc tính nên rất đảm bảo. Nhất là xử lý ô nhiễm nước hồ bằng Công nghệ Thiên nhiên Bakture không làm ảnh hưởng hệ sinh thái như vi tảo, thảm thực vật, các loài thủy sản trong nước…Đặc biệt, do không cần tốn chi phí ban đầu cũng như chi phí bảo trì, nên xét về tổng thể, Bakture rẻ hơn nhiều so với các Công nghệ khác đang áp dụng hiện này. Hơn nữa, do nguyên liệu sản xuất Bakture chủ yếu từ núi lửa dạng tổ ong, xốp sẵn có ở Việt nam ta, trong thời gian tới, để tiếp tục giảm giá thành sản phẩm, JVE đang có kế hoạch nhận chuyển giao công nghệ bản quyền phát minh sáng chế từ phía Nhật Bản để sản xuất tại Việt nam.
PV: Xin ông cho biết Công nghệ Thiên nhiên Bakture có thể ứng dụng xử lý các vấn đề môi trường nào ở Việt Nam hiện nay?
Ông Nguyễn Tuấn Anh: Ở Việt Nam, gần đây nhất là sự cố môi trường biển nghiêm trọng xảy ra trong sự cố Formosa ở các tỉnh miền Trung, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc nuôi trồng thủy sản của nhân dân. Công nghệ Thiên nhiên Bakture của Nhật Bản có thể áp dụng xử lý ngay tại chỗ cho các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản để làm sạch và giúp môi trường nước nuôi trồng thủy sản trở lại như ban đầu và đảm bảo Thủy hải sản không bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, Công nghệ Thiên nhiên Bakture xử lý hiệu quả đối với nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước ao đầm, sông ngòi bị ô nhiễm, xử lý mùi ở cơ sở chăn nuôi. Đặc biệt, không chỉ xử lý nước và mùi, Bakture còn ứng dựng xử lý hiệu quả tại khu vực đất bị nhiễm chất độc màu da cam dioxin, cải thiện môi trường dinh dưỡng trong đất…
Dự kiến trong thời gian tới chúng tôi sẽ tài trợ xin thí điểm xử lý một số điểm ô nhiễm nghiêm trọng hiện nay ở Việt nam như hồ Hoàn Kiếm, sông Tô lịch (Hà nội), vùng biển cũng như khu vực nước biển mà các hộ nuôi trồng Thủy sản bị ô nhiễm do Formosa ở 4 tỉnh miền Trung để chứng minh công nghệ Thiên nhiên này của Nhật Bản.
Đến nay, Công nghệ Thiên nhiên Bakture đã xử lý được hơn 300 ao hồ, sông, cơ sở nuôi trồng thủy sản, nước thải công nghiệp… tại Nhật Bản.
PV: Xin cảm ơn ông!
 
 
 
 
 


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Nghiên cứu - trao đổi