Thứ Năm, 24/10/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Hoạt động tự đánh giá nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Năm 2009, Học viện CSND đã hoàn thành Báo cáo Tự đánh giá lần 1. Thực hiện yêu cầu về việc tự đánh giá theo chu kỳ 5 năm/lần quy định tại Thông tư số 38/2013/TT-BGDĐT ngày 29/11/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, Học viện CSND đã tiến hành tự đánh giá lần thứ 2. Báo cáo Tự đánh giá là kết quả của hoạt động đảm bảo chất lượng, là tài liệu để Học viện công bố với xã hội và các cơ quan quản lý về thực trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, Báo cáo Tự đánh giá còn nhằm chủ động rà soát, kiểm tra, đánh giá toàn diện những mặt mạnh, ưu điểm nổi bật và xác định những hạn chế, tồn tại trong các mặt công tác của nhà trường. Qua đó, thiết lập và triển khai các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để không ngừng đổi mới và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo.

Căn cứ theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học và Quyết định số 5405/QĐ-X11-X14 ngày 23/5/2014 của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (nay là Tổng cục Chính trị CAND) ban hành quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các học viện, trường đại học CAND gồm 10 tiêu chuẩn (65 tiêu chí). Học viện CSND đã thành lập Hội đồng Tự đánh giá theo Quyết định số 465/QĐ-T32-KT&ĐBCLĐT ngày 01/04/2014 của Giám đốc Học viện CSND. Quá trình tiến hành công tác tự đánh giá lần 2, Học viện đã phát hiện và phân tích những điểm mạnh, những tồn tại trong từng lĩnh vực. Từ đó, vạch ra kế hoạch hành động để phát huy những điểm mạnh, khắc phục những tồn tại trong chu kỳ kiểm định tiếp theo. Những phát hiện chính trong quá trình tự đánh giá cụ thể như sau:

Thứ nhất, Học viện đang hướng tới và trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của lực lượng CAND; đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, có trách nhiệm đào tạo cán bộ CSND trình độ đại học và sau đại học; bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng CSND và của Bộ Công an; tổ chức bồi dưỡng kiến thức về phòng, chống tội phạm, kiến thức quản lý nhà nước về an ninh, trật tự cho cán bộ cấp chiến lược trong CAND; thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo kế hoạch của Bộ Công an; là trung tâm nghiên cứu khoa học (NCKH) hàng đầu của lực lượng CAND, giữ vai trò nòng cốt cho sự phát triển của các trường CAND.

Thứ hai, Học viện áp dụng mô hình quản lý 3 cấp: Học viện (Ban Giám đốc Học viện) - Khoa (bộ môn, phòng, trung tâm) - Tổ bộ môn (tổ công tác trực thuộc khoa, bộ môn, phòng, trung tâm), do đó, công tác quản lý luôn đảm bảo tính đồng bộ, thông suốt, tự chịu trách nhiệm và thống nhất cao. Hiện nay, Học viện là nhà trường có đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên có học hàm Giáo sư, Phó giáo sư, học vị Tiến sĩ đông đảo nhất trong các trường CAND. Tính đến hết năm 2014, Học viện có 450 giảng viên cơ hữu, 36 giảng viên kiêm nhiệm là cán bộ quản lý, trong đó: 07 Giáo sư, 27 Phó giáo sư, 121 Tiến sĩ. Giảng viên có khối lượng giảng dạy nhiều nên thời gian dành cho NCKH còn hạn chế. Tỷ lệ học viên/giảng viên cơ hữu là: 20 học viên/giảng viên, còn tương đối cao so với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ trên tổng số giảng viên cơ hữu của Học viện là: 74/486 chỉ chiếm 15,22%, còn thấp so với quy định trường trọng điểm quốc gia.

Thứ ba, chương trình đào tạo của Học viện CSND được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an ban hành, phù hợp với sứ mạng, mục tiêu giáo dục và chức năng, nhiệm vụ của Học viện, đồng thời gắn với nhu cầu học tập của người học, nhu cầu nguồn cán bộ, sĩ quan Cảnh sát đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong điều kiện đất nước đang ngày càng hội nhập sâu rộng trên trường quốc tế. Chương trình đào tạo có mục tiêu rõ ràng, cấu trúc hợp lý, đáp ứng yêu cầu chuẩn kiến thức của đào tạo đại học, sau đại học. Học viện CSND đã mở thêm các chuyên ngành mới: Quản lý trật tự, an toàn xã hội đường thủy; Luật Tố tụng hình sự; Tư pháp hình sự hệ dân sự. Các chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng liên thông hợp lý giữa các trình độ, các hình thức đào tạo trong CAND.

Học viện CSND thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng người học ngày càng tăng, nâng cao trình độ giảng viên, cán bộ quản lý. Học viện đã có các phương pháp và quy trình kiểm tra, đánh giá người học chính xác, khách quan, công bằng. Kết quả học tập của người học được công bố công khai, kịp thời theo quy định và được lưu giữ đầy đủ, an toàn.

Thứ tư, trong những năm gần đây, Học viện đã quan tâm đến việc lắng nghe ý kiến phản hồi của học viên về công tác giảng dạy của các khoa, bộ môn, trung tâm. Song, việc để người học được tham gia vào đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường khi tốt nghiệp chưa được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, định kỳ và có kế hoạch rõ ràng. Ý kiến phản hồi của người học chưa thực sự được xem là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá bài giảng của giảng viên, hiệu quả giảng dạy của khoa, bộ môn đó. Đặc biệt, trong cải tiến phương pháp giảng dạy, điều chỉnh chương trình đào tạo và các hoạt động hỗ trợ đào tạo cho người học.

Thứ năm, các hoạt động hợp tác đào tạo với các đối tác truyền thống như Lào, Campuchia, Nga và các đối tác mới như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Bang Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã được triển khai tốt, đem lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Học viện. Nhiều hội thảo, tọa đàm khoa học, chương trình tập huấn quốc tế đã được tổ chức thành công tại Học viện đóng góp không nhỏ cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực và đấu tranh phòng, chống tội phạm của ngành Công an trong giai đoạn hiện nay. Với sự hỗ trợ của các đối tác quốc tế, nhiều công trình, phương tiện giảng dạy hiện đại đã được trang bị cho Học viện như: phòng thực hành chuyên dùng, thiết bị phục vụ lấy lời khai, các loại ôtô, môtô chuyên dụng phục vụ đào tạo học viên chuyên ngành Cảnh sát giao thông… Các chương trình liên kết đào tạo, chương trình trao đổi học viên, các dự án hợp tác được triển khai tốt góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ, giảng viên của Học viện, chất lượng đào tạo học viên và dần nâng cao vị thế của Học viện so với hệ thống các trường đào tạo Cảnh sát trong khu vực.

Thứ sáu, Học viện đã có nhiều cố gắng đầu tư tối đa cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập của giảng viên và học viên. Hiện nay, thư viện đã được xây dựng khang trang, các đầu sách và tài liệu đã được mở rộng. Song, so với nhu cầu nghiên cứu thì còn một số những khó khăn, đó là: Vốn tài liệu của thư viện mới chỉ đáp ứng yêu cầu của các chuyên ngành đào tạo chính quy trong nhà trường. Đặc biệt, giáo trình và tài liệu chính quy phục vụ cho các hệ học khác còn thiếu. Một số chuyên ngành như Cảnh sát điều tra, Kỹ thuật hình sự, Điều tra trinh sát… cần có tài liệu chuyên sâu, tài liệu nước ngoài hiện nay chưa cập nhật được nên giảng viên, học viên chưa có cơ hội được tiếp cận với kiến thức mới thuộc lĩnh vực này phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Trong khi đó, tình trạng tài liệu tham khảo hiện nay còn trùng lặp gây khó khăn trong việc định hướng nghiên cứu cho người đọc. Phần mềm quản lý của các đơn vị trong trường chưa tích hợp với nhau nên công tác quản lý đôi khi chưa được khoa học. Một số thiết bị máy móc tại các phòng thí nghiệm chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu NCKH và thực hành của học viên. Số lượng phòng học chuyên dùng đối với các chuyên ngành như: Cảnh sát giao thông, Cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma túy, Kỹ thuật hình sự, Cảnh sát điều tra… hiện nay còn hạn chế, thậm chí có chuyên ngành chưa có phòng học chuyên dùng để học viên thực hành, dẫn đến những hạn chế trong việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho học viên.

Do quy mô đào tạo tăng nên số phòng ở ký túc xá cho học viên còn hạn chế, trong thời gian tới cần phải tăng cường, sắp xếp phòng ở cho học viên hợp lý mới có thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo tập trung tại Học viện. Không gian dành cho hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao còn thiếu so với tổng số giảng viên, học viên của Học viện.

Các nguồn thu tài chính hợp pháp hỗ trợ phục vụ công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao đời sống cho cán bộ, học viên hiện nay còn hạn chế do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Học viện chưa có nhiều cơ hội khai thác đa dạng các nguồn tài chính hợp pháp khác để hỗ trợ, giúp đỡ Học viện đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất. Nguồn kinh phí đầu tư cho NCKH còn hạn chế.

Trên đây là những đánh giá tổng quan khái quát về Học viện, nhằm nhận định đúng thực trạng Học viện giai đoạn hiện nay và phương hướng trong thời gian tới nhằm quyết tâm phấn đấu xây dựng và phát triển Học viện CSND trở thành trường trọng điểm của lực lượng CAND và của quốc gia.

 

TS. NGUYỄN KIM PHONG - Phó trưởng phòng KT&ĐBCLĐT - Học viện CSND

ĐỖ ANH DŨNG - Phòng KT&ĐBCLĐT - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 5+6/2015 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác