Thứ Tư, 20/10/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Nâng cao hiệu quả dạy - học chữ Hán cho học viên Học viện Cảnh sát nhân dân
Một giờ học ngoại ngữ của học viên Học viện Cảnh sát nhân dân

I. Thực trạng dạy - học chữ Hán tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng mở rộng và phát triển, đặc biệt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm chúng ta có mối quan hệ, giao lưu hợp tác với nước bạn khá thường xuyên, chặt chẽ. Bên cạnh đó, Học viện Cảnh sát nhân dân Việt Nam cũng là đơn vị có mối quan hệ truyền thống với trường Đại học Công an Trung Quốc. Vì vậy, tiếng Trung Quốc từ lâu đã được đưa vào giảng dạy cho các hệ học tại Học viện Cảnh sát nhân dân.

Mấy năm trở lại đây, lượng học viên học tiếng Trung Quốc trong Học viện Cảnh sát nhân dân chiếm tỉ lệ khá cao so với các ngoại ngữ khác, chỉ đứng sau tiếng Anh. Trung bình mỗi năm có khoảng 400 học viên hệ đào tạo chính quy và 350 học viên hệ vừa làm vừa học học tiếng Trung Quốc. Phần lớn các học viên này đều là lần đầu tiên làm quen, tiếp xúc với tiếng Trung Quốc. Ngoài học viên hệ đào tạo chính quy, có độ tuổi từ 18 đến 22, học viên các hệ học khác như liên thông, vừa làm vừa học có độ tuổi không đồng đều, nên việc giảng dạy và học tập gặp không ít khó khăn, giảng viên giảng dạy cần phải kiên trì, và phải sẵn sàng giúp đỡ học viên trong học tập thì mới đạt được kết quả như mong muốn.

Thống kê kết quả thi chuẩn đầu ra tiếng Trung Quốc sau khi hoàn thành 3 học phần với tổng số 190 tiết của 698 học viên khóa D36, D37, D38, có 84 học viên (đạt 12%) đã thi đạt chuẩn trong lần thi đầu tiên 88% số học viên còn lại phải tiếp tục ôn tập, học bổ sung để thi tiếp các đợt thi sau. Theo khảo sát trong đề tài khoa học cấp cơ sở "Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy, học chữ Hán cho học viên Học viện CSND" do tác giả Hoàng Ngọc Nguyễn Hồng thực hiện năm 2013, khi được hỏi là vì sao tỉ lệ đạt chuẩn đầu ra sau khi học xong 190 tiết của học viên các khóa D36, D37 và D38 lại chưa cao thì đa số người được phỏng vấn đều cho rằng có 2 nguyên nhân chính, thứ nhất là thời lượng học ít và thứ 2 là tiếng Trung Quốc khó. Và khi được hỏi nội dung nào khó nhất trong tiếng Trung Quốc thì 9/9 giáo viên của Tổ tiếng Trung (chiếm 100%) đều cho rằng vấn đề khó nhất trong quá trình học tập tiếng Trung Quốc đó là chữ Hán. 129/186 học viên được hỏi (chiếm 68,8%) chọn chữ Hán là nội dung khó nhất của việc học tiếng Trung Quốc (so với các nội dung ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng). Nhiều học viên không thể viết đúng chữ Hán, viết còn sai quy tắc, nhớ chữ Hán còn kém, nhiều chữ Hán đã học qua nhưng không thể đọc hoặc viết lại được, đặc biệt là những chữ Hán có nhiều bộ thủ kết hợp với nhau thì việc nhớ và viết lại được chữ Hán đó gặp nhiều khó khăn.

II. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học chữ Hán cho học viên Học viện Cảnh sát nhân dân

Là những giảng viên đã công tác lâu năm tại Học viện Cảnh sát nhân dân, với mong muốn tìm ra những phương pháp phù hợp, hiệu quả để giúp cho quá trình dạy - học tiếng Trung Quốc của thầy và trò đạt hiệu quả cao nhất, các tác giả đã không ngừng trau dồi kiến thức, tìm tòi phương pháp cùng với những kinh nghiệm thực tiễn của mình xin đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy - học chữ Hán cho học viên Học viện Cảnh sát nhân dân như sau:

1. Giải pháp đối với giảng viên

Giảng viên giảng dạy môn tiếng Trung Quốc trước hết cần phải là người làm chủ được kiến thức ngôn ngữ và văn hóa mà mình cần truyền thụ, có đủ tri thức về văn tự học Trung Quốc. Trên cơ sở đó tích lũy cho mình một khối kiến thức nhất định về hàm ý văn hóa của chữ Hán. Để nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy chữ Hán, các giảng viên nên tham khảo những gợi ý sau:

1.1. Trong bài nhập môn ngoài giới thiệu chung về tiếng Trung Quốc ra, cần có ít nhất hai tiết học dành cho việc giới thiệu về tính chất biểu ý của chữ Hán và cho học viên làm quen với các nét cơ bản, một số bộ thủ đơn giản, thường gặp và nhất là cần giới thiệu cho sinh viên bốn nguyên tắc cấu tạo của chữ Hán, có ví dụ minh hoạ. Việc làm đó giúp cho các học viên ngay từ đầu đã nắm bắt được tính chất, đặc điểm của ngôn ngữ mà mình được học.

1.2. Với những kiến thức được trang bị, người dạy phải chủ động thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học viên giải thích, tìm hiểu ý nghĩa của chữ Hán, phát hiện mối quan hệ giữa chữ, âm đọc và nghĩa nhất là đối với những chữ Hán phức tạp, có nhiều nét, người dạy phải hướng dẫn cho học viên quan sát, chỉ ra chữ Hán đó có mấy bộ thủ tạo thành, ý nghĩa của mỗi bộ thủ, vai trò của bộ thủ đó trong việc cấu thành chữ là dùng để biểu thị âm thanh hay ý nghĩa. Nếu học viên quên chữ có thể gợi mở bằng cách nêu câu hỏi.

Ví dụ, với chữ 窑 yáo(lò)trong các từ 瓷窑 cíyáo (lò gốm), 琉璃窑 liúlíyáo (lò thủy tinh), có thể gợi ý cho học viên, bộ  穴 huyệt nghĩa là gì? có liên quan đến hầm lò không? trong lò gốm sứ người ta nung cái gì?

1.3. Một dạng bài tập cũng rất lý thú và có hiệu quả cao trong việc rèn trí nhớ đối với chữ Hán là việc tập hợp chữ theo các bộ. Giảng viên sau một thời gian nhất định có thể kiểm tra việc nhớ chữ của học viên bằng cách chia lớp học thành các nhóm khác nhau, sau đó cho học viên tiếp sức viết lại các chữ Hán theo các bộ thủ mà giảng viên chỉ định. Sau khi viết, chỉ ra nghĩa của từng chữ và phát hiện ra mối quan hệ giữa chữ, nghĩa và âm đọc của chữ Hán đó. Như vậy, vừa có tác dụng ôn tập, tổng kết lại một giai đoạn học chữ, học từ. Mặt khác thông qua đó rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức hợp tác trong học tập, cũng như tạo ra không khí thi đua lành mạnh trong học viên, ngoài ra còn làm thay đổi không khí giờ học, tạo hứng thú cho người học, chủ động, tích cực tham gia vào giờ giảng.

1.4. Trong giờ học nên kết hợp giữa yếu tố ngôn ngữ với văn hoá, lịch sử có liên quan để giảng giải, liên hệ vấn đề. Ví dụ: như khi giới thiệu về địa vị người phụ nữ và vấn đề nam nữ bình đẳng ở Trung Quốc ta có thể vận dụng những tri thức về cách quan niệm về người phụ nữ được thể hiện như thế nào thông qua chữ Hán, đặc biệt như là thông qua chữ 安 (an) để giảng giải, mở rộng và phân tích.

Việc truyền đạt chữ Hán một cách có phương pháp, đặt nó trong mối tương quan với văn hoá dân tộc, tập hợp chữ Hán theo chủ đề, giảng viên có thể giúp học viên nhớ chữ, tích luỹ vốn từ vựng dễ dàng hơn, và có thể từng bước mở rộng vốn hiểu biết văn hoá xã hội, đất nước, con người Trung Quốc, làm cho việc học tiếng Trung Quốc nói chung và chữ Hán nói riêng càng thêm bổ ích và lý thú.

2. Giải pháp đối với học viên

Qua khảo sát điều tra chúng tôi thấy rằng, đối với người học tiếng Trung Quốc nói chung và học viên học tiếng Hán tại Học viện Cảnh sát nhân dân nói riêng, muốn nắm được, ghi nhớ được và viết thành thạo được chữ Hán một cách có hiệu quả thì cần có những giải pháp cụ thể, phù hợp để nâng cao chất lượng học tập của học viên. Cụ thể là:

2.1. Nếu người học có phương pháp, nắm bắt được tính chất tượng hình của chữ Hán, từ việc phân tích cấu tạo, thấy được mối liên hệ giữa chữ và nghĩa gốc, bám sát mối liên hệ về nghĩa và âm đọc với các bộ thủ hữu quan, tập hợp chữ theo bộ thủ. Sau đó, lại từ nghĩa gốc suy ra các nghĩa phái sinh thì sẽ có thể nhớ nhanh, nhớ lâu, thông qua tìm hiểu chữ và nghĩa có thể thấy được đặc điểm tâm lý, phương thức tư duy, đặc trưng văn hoá của dân tộc  Hán. Hơn thế nữa, thông qua việc học chữ Hán còn giúp cho người học có thể tích luỹ được một vốn tri thức nhất định về văn hoá Trung Quốc. Từ đó bổ sung cho khối tri thức văn hoá chung của mình.

2.2. Người học cần say sưa, tìm tòi nghiên cứu, nâng cao khả năng quan sát để phát hiện vấn đề. Việc học chữ Hán phải diễn ra thường xuyên, liên tục trong mỗi giờ học từ mới. Học từ mới tiếng Hán song song với việc nắm được cách đọc, âm Hán Việt để bổ trợ cho việc liên hệ với từ vay mượn tiếng Trung Quốc trong tiếng Việt, nhớ nghĩa và cách dùng, người học còn cần phải phát hiện ra mối liên hệ giữa ngữ âm, ngữ nghĩa với hình dạng chữ. Đó cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa học ngoại ngữ là tiếng Trung Quốc với các ngoại ngữ thuộc loại ghi âm theo chữ cái latinh như tiếng Anh, tiếng Pháp…

2.3. Việc học phải tuân theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Đối với sinh viên vừa bắt đầu học tiếng Hán cần phải nắm vững được cách viết các nét cơ bản, trên cơ sở đó nắm vững các bộ thủ. Nắm bộ thủ trên ba phương diện, một là cách viết, hai là ý nghĩa, ba là cách đọc, nhất là các bộ thủ có thể độc lập tạo thành chữ đơn như: 斤 jīn (cân - cái rìu),马 mǎ (mã - con ngựa),口 kǒu (khẩu - miệng),化 huà (hoá - thay đổi) 女 nǚ (nữ - phụ nữ… Từ đó có thể dễ dàng phân tích và nhận biết chữ Hán có liên quan như: 新 xīn (tân - mới - bộ 斤 biểu nghĩa; 近 jìn (cận - gần - Bộ 斤 biểu âm)…

Từ chỗ nắm được bộ thủ, liên hệ vào việc lý giải các chữ Hán phức thể (có từ hai bộ thủ trở lên), chỉ ra được bộ nào biểu thị ý nghĩa, bộ nào biểu thị âm thanh, người học có thể tạo cơ sở khoa học, điểm tựa để ghi nhớ chữ.

Ví dụ: thường là những chữ có bộ 金 kim bên trái thường liên quan đến tiền bạc, kim loại; những chữ có bộ 木 mộc bên trái thường liên quan đến cây thân gỗ, hoặc là gỗ; bộ 艹 thảo đầu thường liên quan đến hoa cỏ; bộ 衣 y bên trái liên quan đến trang phục quần áo, che đậy; bộ 日 nhật liên quan đến mặt trời, sự chiếu sáng… Việc phân tích chữ Hán phức thể ra làm nhiều chữ đơn còn giúp người học vừa học chữ mới, vừa liên hệ, củng cố các chữ đã học. Như vậy, song song với ghi nhận từ mới còn là dịp ôn tập rất hữu ích, học một mà biết hơn một. Ví dụ như: chữ 新 xīn(tân - mới)có thể tách rời thành các chữ đơn như: 立 lì (lập),亲 qīn (thân),斤 jīn (cân),木 mù (mộc) . Học một chữ 新 xīn mà có thể liên hệ được tới bốn chữ có liên quan.

2.4. Đối với một số học viên tích cực muốn tìm tòi học tập nâng cao cần tích cực tham khảo tư liệu, tìm ra nguồn gốc tạo thành chữ, nắm được quá trình tạo chữ cũng là một điều lý thú trong việc học chữ Hán. Ví dụ như: quá trình tạo chữ 玉 ngọc gắn liền với công nghệ trang sức của người Trung Quốc. Tìm hiểu ý nghĩa chữ 贸 mậu có thể hình dung được phần nào về thương mại cổ đại. Phân tích cấu tạo của chữ 祭 tế, chữ 靈 linh có thể hiểu được sơ bộ về tín ngưỡng dân gian của dân tộc Trung Hoa… Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc học tiếng Trung Quốc không chỉ đơn thuần dừng lại ở góc độ ngôn ngữ - văn tự mà còn được mở rộng ra lĩnh vực văn hoá - dân tộc.

Trên đây là một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng dạy - học tập tiếng Trung Quốc, đặc biệt là chữ Hán trong Học viện Cảnh sát nhân dân, xin trao đổi cùng bạn đọc.

 

ThS. HOÀNG NGỌC NGUYỄN HỒNG - Phó trưởng Khoa Ngoại ngữ - Học viện CSND

Ths. PHẠM THỊ THÁI HÒA - Giảng viên Khoa Ngoại ngữ - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 5+6/2015

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác