Thứ Tư, 20/10/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
5 năm tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Học viện Cảnh sát nhân dân - Kết quả đào tạo và định hướng trong thời gian tới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh: Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế (1). Những nội dung đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ và đòi hỏi cụ thể đối với tất cả các trường Công an nhân dân (CAND) nói chung và Học viện Cảnh sát nhân dân (CSND) nói riêng trong việc: Trang bị cách học, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, đảm bảo chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm định và đánh giá chất lượng đào tạo… Để thực hiện các nhiệm vụ này đòi hỏi phải có nhiều nội dung và giải pháp khác nhau, trong đó, Học viện CSND đang thực hiện lộ trình chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một hướng đi đúng.

1. Một số kết quả đạt được sau 5 năm tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Học viện CSND

Ngay sau khi có Kế hoạch số 149/KH-BCA-X11 ngày 04/12/2009 của Bộ Công an về việc triển khai thí điểm đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học trong các trường CAND, Học viện CSND đã xây dựng Kế hoạch số 81/KH-T32-QLĐT ngày 13/01/2010 về tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ tại Học viện CSND để tổ chức thực hiện. Qua 5 năm triển khai, việc tổ chức đào tạo theo tín chỉ đã đạt được một số kết quả nhất định:

- Quá trình tổ chức chuyển đổi và triển khai thực hiện, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt, cụ thể. Từ đó, đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức đối với các đơn vị giảng dạy, các giảng viên, học viên cũng như các đơn vị quản lý giáo dục và phục vụ giảng dạy. Giảng viên đã chủ động trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy, cách thức truyền đạt tri thức từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang hướng dẫn học viên tiếp thu tri thức. Phương pháp giảng dạy thay đổi quyết định tới phương pháp học tập của học viên. Điều này nhận thấy rõ trong việc học viên phải luôn luôn chủ động, tích cực, có kế hoạch học tập cụ thể trong nhiều hoạt động học tập từ vấn đề theo dõi thời khóa biểu, lựa chọn đăng ký học phần, đảm bảo lịch trình giảng dạy môn học đến việc tham gia đầy đủ thời gian có mặt trên lớp, hoàn thành các bài kiểm tra, đánh giá học phần của giảng viên… Bên cạnh đó, học viên cũng được rèn luyện, trang bị các kỹ năng tìm kiếm, đọc tài liệu, sử dụng thành thạo máy vi tính, kỹ năng làm việc (làm việc nhóm, thuyết trình, thích ứng…). Đây là những nội dung mới mà trước đây đào tạo theo niên chế chưa thể hiện được nhiều.

- Xây dựng chương trình đào tạo: Thực hiện kế hoạch của Học viện về tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, trong đó xác định nhiệm vụ, nội dung quan trọng tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ là: Rà soát, chuyển đổi chương trình đào tạo các ngành, chuyên ngành đang tổ chức đào tạo từ hệ thống niên chế sang hệ thống tín chỉ để áp dụng cho khóa tuyển sinh đại học hệ chính quy từ năm học 2010 - 2011. Hiện nay, bậc đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Học viện bao gồm 8 ngành với 15 chuyên ngành đào tạo, trong đó có 12 chương trình đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ thời gian 5 năm và 17 chương trình đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ thời gian 4 năm.

- Kết quả học tập của học viên: Qua 5 năm đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ, đến thời điểm hiện tại chưa có khóa học nào tốt nghiệp ra trường. Theo thống kê, kết quả học lực cho thấy: Năm học 2010 - 2011 đến học kỳ 1 năm học 2014 - 2015 có 4.851 học viên. Kết quả: 100% học viên đạt yêu cầu, không có học viên bị buộc thôi học. Xếp loại học lực Xuất sắc: 01 học viên, chiếm tỷ lệ 0,01%; Giỏi: 134 lượt học viên, chiếm tỷ lệ 1,01%; Khá 7,139 lượt học viên, chiếm tỷ lệ 54,01%; Trung bình: 5,161 lượt học viên, chiếm 39.04% và hạng Yếu: 784 lượt học viên, chiếm tỷ lệ: 5,93%. Từ kết quả học tập từng năm học đối với từng khóa đào tạo cho thấy, kết quả học tập thường thấp ở năm học thứ nhất do học viên chưa thích nghi môi trường học, đồng thời chưa được tư vấn tốt về phương pháp học tập theo hệ thống tín chỉ. Chất lượng học tập của học viên cũng có bước chuyển đáng khích lệ. Tỷ lệ học viên đạt loại học lực từ loại khá trở lên năm sau cao hơn năm trước. Nếu như, năm học 2011 - 2012, tỷ lệ học viên đạt học lực từ loại khá trở lên là 33,24% thì năm học 2012 - 2013 đạt 55.18%, riêng học viên đạt học lực giỏi, xuất sắc năm học 2011 - 2012 là 0,11% thì năm học 2012 - 2013 là 0.28%.

Việc tăng tỷ lệ học viên đạt học lực khá, giỏi, xuất sắc có đồng nghĩa với chất lượng đào tạo nâng lên hay cần thấy rõ với trọng số điểm trao quyền trực tiếp nhiều hơn cho giảng viên và với sự nghiêm túc của đa phần giảng viên thì tỷ lệ học lực đó cũng là thành tựu rất quan trọng. Mặt khác, việc đánh giá cần mang tính tổng thể của các biện pháp đối với khóa đào tạo trên cơ sở mục tiêu đào tạo về kiến thức, kỹ năng, thái độ và đảm bảo các chuẩn đầu ra đối với học viên ngay trước và sau khi tốt nghiệp.

- Đào tạo giảng viên. Hiện nay, Học viện có tổng số 1.040 cán bộ, trong đó 51,2% cán bộ có trình độ đại học, 25,1% trình độ Thạc sĩ, 12,6% trình độ Tiến sĩ, 7 Giáo sư, 28 Phó giáo sư. Đáng chú ý là trong số giảng viên cơ hữu của Học viện có 120 người có trình độ Tiến sĩ, gần 300 Thạc sĩ, 375 Cử nhân. Về chức danh giảng viên có 200 giảng viên chính, 620 giảng viên, 125 trợ giảng. Bên cạnh số giảng viên cơ hữu, Học viện còn có khoảng 100 giảng viên thỉnh giảng có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ, học hàm Giáo sư, Phó giáo sư (2).

- Đầu tư cơ sở vật chất, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo, cụ thể: 81 phòng học các loại từ 50 đến 150 chỗ ngồi với đầy đủ máy chiếu, hệ thống âm thanh, 16 phòng học chuyên dùng, 01 Thư viện nghiệp vụ Cảnh sát 12 tầng, 700 bộ máy tính để bàn, 300 bộ máy tính phục vụ dạy - học tin học và ngoại ngữ, 260 máy vi tính xách tay, phủ sóng Wifi toàn Học viện với 5 đường truyền cáp quang phục vụ công tác khai thác, sử dụng thông tin trong hoạt động giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, đã lắp đặt và đưa vào sử dụng mạng LAN trong hoạt động của từng đơn vị... Đáng chú ý, lần đầu tiên, Học viện đã nghiên cứu và đưa vào triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến (E-learning). Bên cạnh đó, Học viện đã tập trung đầu tư, hoàn thành các công trình phục vụ công tác tập luyện điều lệnh, đội ngũ và rèn luyện thể dục, thể thao như: Nhà tập thể thao đa năng và bể bơi có diện tích 5.166m2, 2 sân Tennis, 03 sân bóng đá mini, xây dựng trường tập bắn mới tại khu B và nhiều công trình thể dục, thể thao khác...

2. Một số tồn tại, hạn chế và khó khăn trong triển khai tổ chức đào tạo

Bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt như trên, quá trình tổ chức đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ tại Học viện còn một số tồn tại, hạn chế và gặp phải những khó khăn nhất định, cụ thể như sau:

- Chương trình đào tạo được thiết kế chưa theo hướng tiếp cận mạnh mẽ đến năng lực người học mà tập trung chủ yếu theo hướng tiếp cận nội dung. Quy trình phát triển chương trình đào tạo chưa thật sự khoa học; việc phân bổ các khối kiến thức trong chương trình đào tạo chưa phù hợp; cấu trúc của một số chương trình đào tạo chưa khoa học, chưa hiện đại; tổng số, tín chỉ và học phần quá nhiều: chương trình đào tạo thời gian 5 năm trung bình 180 tín chỉ, chương trình đào tạo thời gian 4 năm là 149 tín chỉ; quá nhiều học phần nặng về lý thuyết, một số học phần chưa thống nhất về tên gọi, mã học phần, số tín chỉ; chương trình đào tạo còn ít các học phần cho phép học viên tự chọn. Do đó, tính mềm dẻo của chương trình bị hạn chế.

- Hệ thống Đề cương chi tiết học phần qua thực tế đào tạo đã bộc lộ một số khiếm khuyết nhất định như: Một số mục không cần thiết và vẫn còn nhiều nội dung chi tiết; các mục tiêu về trình độ: “Nhớ - hiểu - đánh giá, vận dụng” và các yêu cầu cấp độ: “Phải biết - nên biết - có thể biết” còn chung chung, chưa được xác định rõ bằng các hoạt động cụ thể như chuẩn đầu ra trong đa số đề cương hiện có; chưa có nhiều địa chỉ các trang điện tử mà học viên phải đọc trong các tài liệu bắt buộc và tài liệu tự chọn. Những điều đó đã gây ra nhiều khó khăn cho người dạy và cho người học khi tự học...

- Phương pháp giảng dạy còn mang nặng tính truyền thụ tri thức, chưa sử dụng nhiều phương pháp tích cực, hướng đến người học và phát huy tính tích cực, chủ động của học viên. Các đơn vị giảng dạy, giảng viên thực sự còn chậm tự đổi mới về xây dựng, thiết kết bài giảng, phương pháp giảng dạy theo học chế tín chỉ nên sự chuyển biến, thay đổi trong phong cách còn thiếu đậm nét mặc dù hầu hết cán bộ giảng dạy nhận thức được tính tất yếu của đào tạo theo hệ thống tín chỉ và suy nghĩ cần phải tự đổi mới bản thân để thích ứng với hệ thống này.

- Tổ chức quá trình đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ nội dung quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ mà tổ chức thực hiện theo lộ trình, từng giai đoạn khác nhau trên cơ sở các điều kiện, khả năng của Học viện. Trong giai đoạn ban đầu triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, Học viện gặp nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện một số quy định trong quy chế đào tạo ở một số nội dung cụ thể như: Chưa tổ chức được cho học viên đăng ký các môn học, nhất là các môn học thuộc khối kiến thức đại cương; việc triển khai cho học viên đăng ký chọn giảng viên giảng dạy học phần chưa được tiến hành do những khó khăn về số lượng đội ngũ giảng viên và nhận thức của giảng viên về vấn đề này còn những hạn chế nhất định.

- Đội ngũ cố vấn học tập cho học viên đã được thành lập, Học viện đã có quy định về chức năng, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cố vấn học tập, song bản thân các cố vấn học tập chưa được trang bị những kiến thức, hiểu biết những yêu cầu của một cố vấn học. Mặt khác, do các cố vấn học tập là các giảng viên trẻ, ít kinh nghiệm và sự am hiểu về chương trình đào tạo nên hoạt động chưa hiệu quả, chưa phát huy đúng vai trò của cố vấn học tập.

- Cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo theo học chế tín chỉ chưa đáp ứng đầy đủ, có chất lượng và hiệu quả. Điều này được thể hiện: Học viện chưa hoàn thành hệ thống thư viện đồng bộ, hiện đại; tài liệu nghiên cứu của học viên tại Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa chưa đáp ứng được yêu cầu học theo hệ thống tín chỉ về số lượng đầu sách, sự đa dạng của tài liệu. Các phòng học mặc dù đã cố gắng đảm bảo những yêu cầu cơ bản hướng tới việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, nhưng do số lượng học viên quá đông, số lượng phòng học còn thiếu so với quy mô đào tạo đã ảnh hưởng tới chất lượng dạy và học cũng như lịch trình, thời khóa biểu học tập.

3. Phương hướng tổ chức đào tạo theo tín chỉ tại Học viện thời gian tới

Một là, từ những kết quả ban đầu đã đạt được trong đào tạo theo tín chỉ tại Học viện có thể khẳng định: Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ là chủ trương đúng đắn của Bộ Công an, phù hợp với xu thế chung của giáo dục đại học nước ta và giáo dục đại học thế giới. Đây là một phương thức đào tạo có hiệu quả, phù hợp với giáo dục hiện đại, giúp nâng cao chất lượng đào tạo. Do vậy, thời gian tới, Học viện sẽ báo cáo Bộ Công an tiếp tục duy trì và triển khai phương thức đào tạo này đối với các hệ đào tạo đại học.

Hai là, Học viện cần tập trung đầu tư xây dựng và phát triển công cụ, phương pháp quản lý đào tạo hiện đại, chuyên nghiệp trên cơ sở áp dụng hệ thống quản lý đào tạo tiên tiến, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin thay thế cho hệ thống quản lý còn mang tính thủ công như hiện nay. Hệ thống này có tính chất tương tự như quản trị doanh nghiệp, trong đó cốt lõi là phải xây dựng các quy trình quản lý đào tạo nói riêng và quản lý nhà trường nói chung theo chuẩn ISO với hệ thống dữ liệu các lĩnh vực như: Quản lý đào tạo (tuyển sinh, kết quả học tập, văn bằng); Quản lý cán bộ (lý lịch, lương, cấp bậc hàm...); Quản lý nghiên cứu khoa học (giáo trình, đề tài khoa học, bài báo); Quản lý hành chính (công văn, điều hành điện tử...); Quản lý học viên (kết quả rèn luyện, khen thưởng, kỷ luật)... Các hệ thống quản lý này phải mang tính tập trung, thống nhất, có hệ thống, liên thông với nhau.

Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa về chương trình, nội dung giảng dạy, giáo trình và quy trình kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo. Thực hiện đào tạo mô hình “3 trong 1”: Đào tạo trở thành đảng viên, đào tạo nghề Công an và đào tạo kỹ năng lãnh đạo, chỉ huy. Tiếp tục cải tiến nội dung chương trình giảng dạy, phương pháp dạy học theo hướng cơ bản, thiết thực, hiện đại, thống nhất, liên thông giữa các bậc học, coi trọng huấn luyện kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp cũng như trang bị kiến thức nghiệp vụ cho học viên theo hướng đào tạo đại học nghiên cứu và đào tạo đại học thực hành.

Bốn là, tập trung đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của người học, gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, nâng cao kỹ năng thực hành cho học viên. Gắn kết các đơn vị nghiệp vụ với nhà trường, cập nhật thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng CSND; tiếp tục và thường xuyên phối hợp, tổ chức hội thảo khoa học với các đơn vị nghiệp vụ về đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo các môn học nghiệp vụ chuyên ngành. Đặc biệt, tăng cường đầu tư phát triển hệ thống đào tạo trực tuyến (E-learning) nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời gian nào của học viên; đồng thời góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng trong tiếp cận, tiếp thu tri thức trong xã hội hiện nay.

 

TS. TRẦN HỒNG QUANG - Trưởng phòng QLĐT - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 5+6/2015

 

_______________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. Học viện CSND (2014), Báo cáo tổng kết 46 năm công tác giáo dục, đào tạo của Học viện CSND từ năm 1968 đến nay, Hà Nội.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác