Thứ Năm, 22/8/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến lược phát triển con người được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát kinh tế - xã hội. Trải qua các kỳ đại hội, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, nhận thức của Đảng về chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy tài năng, trí tuệ của con người Việt Nam để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng đúng đắn, đầy đủ hơn. Trong Đại hội XI. XII, Đảng ta khẳng định: Phát triển nguồn nhân lực đặcbiệt là nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá chiến lược, nhân tố đảm bảo phát triển nhanh và bền vững.

Với sự chỉ đạo sát sao và quyết tâm của các ngành, các cấp, trong những năm qua, công tác đào tạo nguồn lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta đã đạt được một số kết quả khả quan. Đã xây dựng được quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực chất lượng cao gồm 3 nhóm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ khoa học và công nghệ; nhân lực lao động kỹ thuật. Đã phát triển và dần hoàn thiện hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học nhiều cấp, nhiều loại hình. Đã xây dựng và ban hành một số cơ chế chính sách khuyến khích, đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao; tăng cường hợp tác trong và ngoài nước trong đào tạo nhân lực chất lượng cao…

Tuy nhiên, quá trình thực hiện những chủ trương, chính sách vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định; trong chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước nhiều lúc chưa kịp thời; giáo dục đào tạo, công tác bồi dưỡng còn nhiều bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nhiều cơ chế, chính sách còn chưa phù hợp, chưa sát với thực tế… Đó là do: Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực còn hạn chế; chưa huy động được nhiều các nguồn lực trong xã hội (nhất là các doanh nghiệp) để phát triển nhân lực; nhiều mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chưa tính toán đầy đủ các điều kiện thực hiện; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chưa chặt chẽ. Hệ thống giáo dục quốc dân bộc lộ nhiều hạn chế, cụ thể là: Công tác đào tạo, giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự dựa trên cơ sở nhu cầu xã hội, chưa thu hút được sự tham phát triển nguồn nhân lực từ các đơn vị sử dụng lao động; đội ngũ giáo viên, giảng viên còn thiếu về số lượng, còn có sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển giữa các địa phương, vùng, miền; hệ thống phương pháp, công cụ kiểm tra, giám sát, kiểm định và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo còn lạc hậu, kém hiệu quả; mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng… Trong hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh tế, xã hội, văn hoá nước ta với thế giới. Còn nhiều sự khác biệt trong các quy định về giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nhân lực của hệ thống pháp luật Việt Nam so với pháp luật của các nước; mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo nhân lực chưa tương thích và chưa phù hợp với các tiêu chuẩn phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới; chưa thu hút được nhiều các nguồn lực quốc tế cho phát triển nhân lực…

Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ hội nhập, xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là hết sức cần thiết. Để thực hiện được mục tiêu to lớn đó cần sự chỉ đạo, lãnh đạo sáng suốt của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự chung tay của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Trước hết, cần đổi mới công tác quản lý nhà nước về phát triển nhân lực: Trong đó, cần tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực. Cần hình thành một cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực trên địa bàn cả nước nhằm bảo đảm cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội; tiến hành điều tra, khảo sát thường xuyên về nhân lực và chất lượng nhân lực ở tất cả các ngành, các cấp, địa phương và cả nước; bảo đảm cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước và từng ngành, từng cấp. Đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát triển nhân lực, tăng cường sự phối hợp giữa các cấp các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện, đồng bộ giáo dục và đào tạo.

Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tổ chức lại mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng, miền và địa phương.

Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung, kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đa dạng hoá các phương thức đào tạo. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.

Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo.

Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo. Đặc biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các trường sư phạm trên phạm vi cả nước.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Để phát huy tính tích cực và hoạt động lao động sáng tạo của nguồn nhân lực chất lượng cao phải làm tốt công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng một cách khoa học, dân chủ, đúng đắn. Do vậy, phải tiến hành quy hoạch và có cơ chế quản lý, sử dụng lao động từ tuyển chọn, bố trí, đánh giá đến chế độ đãi ngộ, chăm lo mọi mặt đời sống cho người lao động. Trong công tác quy hoạch, cần xác định trước những dự báo chiến lược về nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đó có sự đầu tư đúng mức, hợp lý cho từng loại hình cơ sở vật chất nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách hợp lý và mang lại hiệu quả thiết thực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ cần được tiến hành đồng thời với việc đổi mới công tác đánh giá cán bộ, xác định thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và trong quy hoạch, luân chuyển cán bộ; tiến hành xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ và tiêu chí đánh giá cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh, theo hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân

Bốn là, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt Nam.

Xây dựng và thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà Việt Nam tham gia, ký kết, cam kết thực hiện. Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo định hướng phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo của Việt Nam và quốc tế; thực hiên công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam và của thế giới; thỏa thuận về việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa Việt Nam với các nước.

Thực hiện đánh giá và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết, trao đổi về giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học và các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và thế giới.

Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà giáo, nhà khoa học có tài năng và kinh nghiệm của nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực đại học và nghiên cứu khoa học, công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Tăng cường dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), văn hoá thế giới, kỹ năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế cho người Việt Nam đặc biệt là học sinh, sinh viên.

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển xã hội.

Trong thời đại cách mạng công nghiệp hiện nay, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề lớn, cơ bản, lâu dài, do đó, đòi hỏi phải phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên tất cả các mặt, từ kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý, sử dụng nguồn nhân lực... đến các chính sách về thu hút, đãi ngộ người lao động. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế có vai trò quan trọng đặc biệt; là điều kiện cho Việt Nam hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững.

Hồ Thị Thu Hiền

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác