Thứ Sáu, 18/10/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về xử lý các hành vi xâm hại người chưa thành niên

Với những đặc điểm tâm sinh lý rất riêng về lứa tuổi và thể chất, người chưa thành niên dễ bị lạm dụng hoặc bị tội phạm xâm hại. Do vậy, các em cần được gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục và bảo vệ. Để bảo đảm người chưa thành niên được sống trong môi trường lành mạnh để phát triển một cách toàn diện và đầy đủ về thể chất, trí tụê cũng như tinh thần, pháp luật Việt Nam đã coi người chưa thành niên là đối tượng được bảo vệ đặc biệt. Do đó, bất kỳ hành vi phạm tội nào xâm phạm người chưa thành niên đều được coi là xâm phạm tới quyền và lợi ích đặc biệt, quyền được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt của người chưa thành niên. 

Trong thời gian qua, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đã chứng minh tình trạng ngày một gia tăng của tội phạm xâm hại người chưa thành niên, và hậu quả là quyền và lợi ích của người chưa thành niên bị xâm phạm một cách nghiêm trọng. Đây đang là vấn đề gây nhức nhối cho toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay. Người chưa thành niên bị xâm hại dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó nổi lên các hình thức như lạm dụng thân thể, xâm hại tình dục, bóc lột sức lao động hoặc xâm phạm tính mạng, sức khoẻ. Để đấu tranh nhằm giảm bớt tình trạng gia tăng của loại tội phạm này, việc quy định chính sách pháp luật phù hợp là hết sức cần thiết, đặc biệt là về chính sách hình sự.

Thể hiện thái độ nghiêm khắc, không khoan nhượng của Nhà nước đối với loại tội phạm nguy hiểm này, đồng thời răn đe và phòng ngừa các hành vi vi phạm, lạm dụng người chưa thành niên, cũng là để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các em, pháp luật hình sự quy định chính sách hình sự đối với các tội phạm xâm phạm người chưa thành niên trên quan điểm trừng phạt thật nghiêm khắc đối với những hành vi phạm tội xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Cụ thể là bên cạnh một số tội phạm quy định những hành vi xâm hại người chưa thành niên, Bộ luật hình sự cũng quy định yếu tố xâm hại người chưa thành niên là một trong những cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Theo đó, hình phạt và khung hình phạt được áp dụng đối với những đối tượng đã xâm hại người chưa thành niên cao hơn so với những đối tượng xâm hại người đã thành niên. Rõ ràng, chính sách hình sự này được xem là một công cụ hữu hiệu trong việc đấu tranh phòng, chống những tội phạm xâm hại người chưa thành niên. Tuy nhiên, xung quanh các quy định của BLHS về xử lý hành vi xâm hại người chưa thành niên còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vì một số vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn áp dụng.

I. Các quy định hiện hành của BLHS về việc xử lý hành vi xâm hại người chưa thành niên

Qua nghiên cứu các quy định của BLHS thì có thể thấy rằng, việc xử lý hành vi xâm hại người chưa thành niên được BLHS quy định theo hai cách. Thứ nhất là quy định các tội phạm mà đối tượng bị xâm hại chỉ là người chưa thành niên, và thứ hai là việc xâm hại người chưa thành niên được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở một số tội phạm.

1. Các quy định về tội phạm với đối tượng bị xâm hại chỉ là NCTN

Các tội phạm xâm hại tới đối tượng duy nhất là người chưa thành niên được BLHS quy định ở hai nhóm tội. Nhóm thứ nhất là các tội thuộc Chương XII - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người với 6 tội danh, cụ thể: (1) Tội giết con mới đẻ (Điều 94); Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112); (3) Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114); (4) Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115); Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116); Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120).

Nhóm thứ hại là các tội thuộc Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, bao gồm 02 tội danh, đó là: (1) Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252); Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256).

Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người chưa thành niên được xem là những tội phạm hết sức nghiêm trọng, thể hiện dưới lỗi cố ý của người phạm tội muốn xâm hại tới đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt đó là người chưa thành niên. Do đó, hình phạt đối với những tội này được BLHS quy định cũng hết sức nghiêm khắc, có thể đến 15 năm tù hoặc 18 năm tù. Một số tội phạm đã được quy định mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, như tội hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm trẻ em hoặc tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Ngoài hình phạt chính, người phạm một trong các tội thuộc nhóm này còn có thể bị áp dụng hình phạt tiền hoặc hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Riêng đối với tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 94 BLHS thì đây được xem là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người. Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến quyền sống của đứa trẻ “mới đẻ”. Người chưa thành niên bị tội phạm xâm hại ở tội danh này là con mới đẻ - đứa trẻ mới sinh ra trong vòng bảy ngày trở lại.  Mặc dù người phạm tội có hành vi giết con mới đẻ (giết con hoặc vứt bỏ con mới đẻ), tuy nhiên đây lại là trường hợp được giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người vì chủ thể của tội phạm là người mẹ của đứa trẻ đang ở trong hoàn cảnh mới sinh con, tâm sinh lí không bình thường, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn bị hạn chế do tác động của việc sinh con. Bên cạnh đó, người mẹ giết con có thể là do chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu (như trọng nam khinh nữ) hoặc do hoàn cảnh khách quan chi phối (như người mẹ sinh con trong hoàn cảnh vô gia cư, thất nghiệp, bản thân lại đang bị bệnh nan y…).

2. Các quy định về tội phạm có yếu tố cấu thành tăng nặng là trường hợp xâm hại NCTN

Để góp phần thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của người chưa thành niên, ngoài việc quy định những hành vi xâm hại người chưa thành niên thành những tội danh độc lập như trên, BLHS còn quy định việc xâm hại tới người chưa thành niên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

2.1. Nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ

          - Tội giết người (Điều 93);

          - Tội đe doạ giết người (Điều 103);

          - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104);

          - Tội hành hạ người khác (Điều 110);

          - Tội hiếp dâm (Điều 111);

          - Tội cưỡng dâm (điều 113);

          - Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117);

          - Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118);

          - Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134).

Bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền con người co bản nhất được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bất cứ người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người khác đều bị xử lý theo pháp luật. Đối với loại hành vi phạm tội này, BLHS 1999 đã quy định chính sách xử lý hình sự hết sức nghiêm khắc nhằm trừng trị, răn đe đối với kẻ phạm tội. Nhưng chính sách xử lý hình sự được quy định nghiêm khắc hơn rất nhiều nếu đối tượng bị xâm hại của hành vi phạm tội là người chưa thành niên. Các tình tiết “giết trẻ em” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 93; “đối với trẻ em” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 103, điểm d khoản 1 Điều 104, điểm a khoản 2 Điều 110; “đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” quy định tại khoản 4 các Điều 111 và 113; và “đối với người chưa thành niên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 117 và điểm c khoản 2 Điều 118 đều được quy định là một trong những tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm đó. Điều này thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với hành vi xâm hại đến đối tượng đặc biệt là người chưa thành niên. Với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “giết trẻ em”, Điều 93 quy định áp dụng mức phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội, trong khi đó, nếu phạm tội giết người thông thường thì mức phạt tù chi từ 7 năm đến 15 năm. Với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, Điều 104 quy định người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi xâm hại gây thương tích cho người đó với tỷ lệ từ 11% trở lên, những cũng với hành vi xâm hại đó, nếu đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì dù tỷ lệ thương tật dưới 11%, người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tương tự như thế, đối với các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, tội lây truyền hoăc cố ý lây truyền HIV cho người khác, yếu tố xâm hại “đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” hoặc “đối với người chưa thành niên” được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc hơn rất nhiều so với hành vi xâm hại đến đối tượng đã thành niên. Ví dụ như đối với tội cố ý lây truyền HIV cho người khác, nếu người phạm tội cố ý truyền HIV cho người khác thì có thể bị áp dụng mức phạt tù từ 3 năm đến 10 năm, nhưng nếu đối tượng bị truyền HIV là người chưa thành niên thì người phạm tội sẽ phải chịu mức hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc chung thân.

Đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị bắt cóc. Do đó, trường hợp đối tượng bị bắt cóc là trẻ em thì đây được coi là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tù từ 5 năm đến 12 năm, nghiêm khắc hơn so với mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em.

2.2.  Nhóm các tội phạm về ma tuý

- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194);

- Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 197);

- Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 198);

- Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200).

Trong những năm gần đây, ma tuý được coi như một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tỷ lệ tội phạm, làm huỷ hoại sức khoẻ, suy thoái nhân cách, đạo đức, phẩm giá của con người. Đặc biệt, những hậu quả vô cùng to lớn sẽ xảy ra nếu đối tượng bị ma tuý xâm hại là người chưa thành niên - đối tượng được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Vì thế, BLHS đã quy định chính sách xử lý hết sức nghiêm khắc đối với những tội phạm về ma tuý, đặc biệt là đối với những hành vi xâm hại tới đối tượng là người chưa thành niên. Cụ thể là, các tình tiết “sử dụng trẻ em vào việc phạm tội”, “đối với trẻ em” và “đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên” tại các điều 194, 197, 198 và 200 được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự với hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, trong khi đó trường hợp phạm tội thông thường thì mức hình phạt tù được áp dụng là từ 2 năm đến 7 năm. Tình tiết “đối với trẻ em dưới 13 tuổi” được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 200 với khung hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, nghiêm khắc hơn rất nhiều so với khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm đối với trường hợp phạm tội thông thường.

2.3. Nhóm các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng

- Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ (Điều 253);

- Tội chứa mại dâm (Điều 254);

- Tội môi giới mại dâm (Điều 255).

Hiện nay, hoạt động mại dâm và các hoạt động khác liên quan đến tệ nạn mại dâm ngày càng có chiều hướng gia tăng. Đối tượng bị xâm hại của các tội nay ở nhiều lứa tuổi khác nhau, trong đó người chưa thành niên chiếm một tỷ lệ đáng kể. Về bản chất, loại tội phạm này xâm phạm đến sự phát triển lành mạnh của người chưa thành niên cả về thể chất và tinh  thần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống sau này của các em. Do vậy, BLHS đã quy định mức hình phạt khá nghiêm khắc đối với nhóm tội này, đặc biệt đối với những hành vi phạm tội mà xâm hại đến người chưa thành niên. Tình tiết “đối với người chưa thành niên”, “đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” và “đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại các điều 253, 254 và 255 là những tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tù nghiêm khắc hơn rất nhiều so với trường hợp phạm tội mà đối tượng bị xâm hại là những người đã thành niên.

3. Xâm hại người chưa thành niên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 48 BLHS

Ngoài việc quy định hành vi xâm hại tới người chưa thành niên là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của 16 tội danh nêu trên, BLHS còn quy định trường hợp “phạm tội đối với trẻ em” hoặc “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 48 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự thì những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trên chỉ áp dụng đối với những trường hợp pháp tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội có nhận biết được hay không  nhận biết được người bị xâm hại là trẻ em hoặc người chưa thành niên. Trẻ em được xác định là người dưới 16 tuổi theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, và người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Như vậy, nếu điều luật không quy định “phạm tội đối với trẻ em” hoặc “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự thì hai tình tiết này được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này để quyết định mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội.

4. Chính sách xử lý hình sự đối với hành vi phạm tội xâm hại tới người chưa thành niên khi căn cứ theo độ tuổi

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Như vậy, người chưa thành niên, theo pháp luật Việt Nam, được chia là thành hai nhóm đối tượng căn cứ theo độ tuổi. Nhóm đối tượng thứ nhất là người chưa thành niên dưới 16 tuổi hay còn gọi là trẻ em theo quy định của Luật Bảo vệ, Giáo dục và Chăm sóc trẻ em, và nhóm đối tượng thứ hai là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Vì thế, pháp luật hình sự cũng căn cứ theo độ tuổi của người chưa thành niên để quy định chính sách hình sự phù hợp trong việc xử lý những hành vi phạm tội xâm hại tới người chưa thành niên. Theo đó, BLHS đã chia người chưa thành niên thành 3 nhóm độ tuổi chính để làm căn cứ quy định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội xâm hại tới người chưa thành niên mà được xem là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể là:

- Thứ nhất là trẻ em chưa đủ 13 tuổi. Đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 197 và điểm c khoản 3 Điều 200. Theo quy định của các điều luật này thì hình phạt tù có thể áp dụng đối với hành vi xâm hại tới người chưa thành niên trong lứa tuổi nàylà từ 15 năm đến 20 năm, nghiêm khắc hơn rất nhiều so với hành vi xâm hại tới người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên với hình phạt tù từ bảy năm đến 15 năm.

- Thứ hai là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 3 các điều 254 và 255. So với hình phạt tù được áp dụng đối với kẻ phạm tội trong trường hợp xâm hại người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (phạt tù từ 5 năm đến 15 năm), hình phạt tù được áp dụng đối với hành vi xâm hại đến người chưa thành niên trong độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi đã thể hiện thái độ trừng phạt nghiêm khắc hơn của Nhà nước ta (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm).

- Thứ ba là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 4 các điều 111 và 113, và điểm d khoản 2 Điều 254, điểm a khoản 2 Điều 255. So với hai tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự nêu trên, hình phạt được áp dụng đối với hành vi xâm hại đến đối tượng người chưa thành niên trong độ tuổi này là nhẹ hơn, vì căn cứ vào độ tuổi của đối tượng bị xâm hại. Tuy nhiên, khung hình phạt được áp dụng đối với kẻ phạm tội xâm hại tới đối tượng này cũng nghiêm khắc hơn rất nhiều so với hành vi xâm hại tới người đã thành niên

II. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về xử lý các hành vi xâm hại tới người chưa thành niên

Như đã phân tích ở trên, Bộ luật hình sự đã quy định những hình phạt hết sức nghiêm khắc đối với hành vi xâm hại người chưa thành niên – đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như phù hợp với tinh thần của các văn kiện quốc tế về bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên. Tuy nhiên, với thực trạng ngày càng gia tăng các hành vi xâm hại người chưa thành niên bằng nhiều hình thức lạm dụng, bóc lột khác nhau, thì những quy định hiện hành của BLHS đã thể hiện một số hạn chế, bất cập và dường như là chưa đủ để trừng trị những hành vi xâm hại người chưa thành niên. Để hoàn thiện những quy định về xử lý hành vi xâm hại người chưa thành niên, bảo vệ triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong tình hình mới, thì một số quy định của BLHS vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung, cụ thể:

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em Việt Nam là những người dưới 16 tuổi. Như vậy, đối với một số tội phạm được BLHS quy định xâm hại tới trẻ em như tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120), tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228) hoặc ở một số tội danh có tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với trẻ em” thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hình sự tăng nặng nếu phạm tội đối với các em dưới 16 tuổi. Như vậy, người chưa thành niên từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ không thuộc đối tượng được bảo vệ của một số điều luật. Trong khi đó vì những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lý, các em trong độ tuổi này cũng rất cần được bảo vệ đặc biệt về mặt pháp lý. Công ước quốc tế về quyền trẻ em, cũng như pháp luật của nhiều quốc gia khác cũng quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi. Do vậy, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, để bảo đảm quyền của trẻ em một cách triệt để, đồng thời tạo thuận lợi trong qúa trình hợp tác quốc tế thì  trong thời gian tới, độ tuổi của trẻ em cần được nghiên cứu sửa đổi để quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể là trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Bộ luật hình sự.

Thứ hai, liên quan đến Điều 94 BLHS thì có thể khẳng định rằng, với xu hướng phát triển xã hội về mọi mặt như hiện nay, đặc biệt là sự phát triển đa dạng về giáo dục, phương tiện thông tin, truyền thông. Chuúng ta đã có nhiều năm thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục để xóa bỏ các tư tưởng lạc hậu, các hủ tục hà khắc. Nhìn chung, nhận thức của người dân đã được cải thiện rất nhiều thông qua các hoạt động truyền thông, tuyên truyền, vận động thay đổi nhận thức. Đặc biệt, người dân ở khu vực miền núi, vùng sâu vùng xã, vùng dân tộc thiểu số với những quan điểm sai lầm, phong  tục tập quán lạc hậu đã được nâng cao nhận thức, xóa bỏ nhiều quan niệm, những phong tục cổ hủ, lạc hậu. Vì thế, quy định tại Điều 94 có vẻ như không còn phù hợp với thực tiễn. Không thể khẳng định rằng tình trạng người mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu mà giết con mới đẻ đã hoàn toàn chấm dứt, nhưng thực tiễn đã chứng minh rằng đây không còn là hiện tượng diễn ra phổ biến như trước kia nữa. Nếu chúng ta quy định tội giết con mới đẻ với chế tài không đủ nghiêm khắc thì những quan niệm sai lầm, những tư tưởng lạc hậu vẫn có cơ hội tồn tại và có thể là lý do được viện dẫn cho việc thực hiện hành vi giết con mới đẻ với những mục đích khác nữa. Do đó, có thể thấy rằng hiện nay là thời điểm thích hợp để thực hiện biện pháp mạnh hơn nhằm xóa bỏ tình trạng này, đó là cần nghiên cứu sửa đổi quy định này theo hướng không nên quy định “giết con mới đẻ” là một tội phạm độc lập mà có thể quy định đây là một khoản độc lập của Điều 93 – Tội giết người (khoản 2 hoặc bổ sung thêm khoản mới) với chế tài nghiêm khắc hơn so với quy định hiện hành tại Điều 94 BLHS.

Thứ ba, về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 BLHS, thì  hiện nay việc “mua bán trẻ em” vẫn chưa được giải thích cụ thể, rõ ràng. Cho đến nay, chỉ có một văn bản pháp lý đề cập đến định nghĩa “mua bán trẻ em”, đó là Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS. Theo Nghị quyết này thì “mua bán trẻ em” được hiểu là việc chuyển giao trẻ em từ một người hoặc một nhóm người sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất”. Tuy nhiên, với thực tiễn đang diễn ra hiện nay thì hướng dẫn trên không còn phù hợp nữa. Vì thế, chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, để đảm bảo đấu tranh phòng, chống tệ nạn buôn bán trẻ em một cách triệt để và toàn diện, đề nghị nghiên cứu để đưa ra một khái niệm hoặc sự giải thích cụ thể, rõ ràng để có cách hiểu thống nhất thế  nào là  “mua bán trẻ em” quy định trong BLHS. Đồng thời, để hạn chế việc lợi dụng các hoạt động cho, nhận con nuôi để thực hiện việc mua bán trẻ em, trong thời gian tới chúng ta cần nghiên cứu để bổ sung quy định về tội phạm liên quan đến việc cho, nhận con nuôi trái pháp luật.

Thư tư, hiện nay vấn đề sử dụng trẻ em để sản xuất các tài liệu, ấn phẩm khiêu dâm hoặc những hành vi khiêu dâm đối với trẻ em diễn ra khá phổ biến và để lại những hậu quả rất nặng nề đối với các em. Tuy nhiên, những vấn đề này chưa được quy định thành một tội danh độc lập trong BLHS. Mặc dù hiện nay có thể áp dụng Điều 253 – Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, để trừng phạt các hành vi này. Tuy nhiên, việc xử lý theo Điều 253 BLHS đối với những hành vi trên phần nào mang tính khiên cưỡng.  Do vậy, để tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự, góp phần thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, chúng tôi thấy cần tiếp tục nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung thích hợp luật hình sự Việt Nam, cụ thể là bổ sung thêm quy định tội phạm liên quan đến việc sử dụng trẻ em trong việc sản xuất các tài liệu, sách báo, phim ảnh khiêu dâm, có tính chất đồi truỵ hoặc xúi giục, ép buộc các em tham gia các cuộc biểu diễn khiêu dâm thành một tội danh độc lập trong Bộ luật hình sự.

Thứ năm, hiện nay, thực tiễn đang chứng minh rằng tình trạng bóc lột lao động, cưỡng bức lao động người chưa thành niên đang diễn ra khá phổ biến. Đã có nhiều trường hợp người chưa thành niên bị cưỡng bức lao động, bị bóc lột sức lao động trong nhiều năm liền, để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sự phát triển của các em. Tuy nhiên, BLHS mới có một điều luật quy định về tội vi phạm quy định về lao động trẻ em, đó là tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em tại Điều 228 BLHS. Theo quy định của điều luật này thì người sử dụng lao động trẻ em chỉ bị trừng trị khi người đó đã sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với hóa chất độc hại. Vì thế, không thể áp dụng điều luật này để xử lý những người có hành vi bóc lột, cưỡng bức lao động trẻ em nếu em đó tuy không bị bắt buộc làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hay tiếp xúc với hóa chất độc hại nhưng các em có thể bị bắt buộc làm những công việc với thời gian làm việc nhiều, như trên 12 giờ một ngày hoặc làm 7 ngày trong tuần, hoặc các em có thể bị buộc phải lao động mà không được trả công thỏa đáng với sức lao động các em đã bỏ ra . Vì thế, trong thời gian tới, BLHS cần được nghiên cứu để bổ sung thêm quy định về tội phạm liên quan đến vấn đề cưỡng bức, bóc lột lao động trẻ em, nhằm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tình trạng sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật.

Với mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em nói riêng và người chưa thành niên nói chung, đặc biệt là bảo vệ các em khỏi các hành vi xâm hại để các em được phát triển lành mạnh trong môi trường xã hội an toàn một cách hiệu quả, thì chúng ta cần phải tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ, như giáo dục, đào tạo; vận động, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức; hoàn thiện hệ thống pháp luật... Như thế, việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự chỉ là một trong số các biện pháp đó. Tuy nhiên, đây được xem là một trong số các biện pháp nòng cốt, trọng tâm và có hiệu quả cao trong việc bảo vệ người chưa thành niên khỏi những hành vi xâm hại. Hy vọng rằng với một số đề xuất mang tính gợi ý trên sẽ góp phần tăng cường hiệu quả và tính bền vững của việc bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên, tạo điều kiện cho các em được phát triển trong một môi trường lành mạnh, an toàn./.

Phạm Ngọc Toản - T51, Bộ Công an

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác