Thứ Ba, 19/10/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Yếu tố nạn nhân trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em gái trong những năm gần đây và giải pháp phòng ngừa

Tình trạng này có xu hướng ngày càng nghiêm trọng về mức độ, tính chất và gia tăng về số vụ, thể hiện ở số vụ án xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em gái mà Tòa án các cấp đã thụ lý, giải quyết năm sau thường cao hơn năm trước trong giai đoạn 5 năm gần đây, cụ thể là năm 2008: 1.494 vụ với 1.789 bị cáo; năm 2012: 1.736 vụ với 2.039 bị cáo và năm 2013: 2.050 vụ với 2.330 bị cáo. Trong đó, số vụ án xâm phạm tình dục là trẻ em gái chiếm tỷ lệ lớn (6.929 vụ với 7.563 bị cáo, chiếm tỷ lệ 78, 99% số vụ và chiếm 73,68% số bị cáo bị xét xử). Theo báo cáo của Cục Cảnh sát hình sự, giai đoạn từ 2011- 2014, số vụ xâm hại trẻ em trung bình mỗi năm tăng 370 vụ, trong đó chủ yếu là xâm hại tình dục trẻ em 3.347 vụ. Riêng năm 2014, toàn quốc phát hiện 1885 vụ xâm hại trẻ em, gồm 2.073 đối tượng phạm tội, xâm hại 1.931 em, trong đó tội phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm khoảng 80%.

Đặc biệt, trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em gái, có những vụ án nghiêm trọng xảy ra như: Bố đẻ hiếp dâm con gái ruột, cha dượng hiếp dâm con, ông hiếp dâm cháu, thầy giáo hiếp dâm học trò nhiều lần, người bị hại trong vụ hiếp dâm còn quá nhỏ tuổi, xâm hại tình dục nạn nhân rồi giết người nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật... Điều này thể hiện tính chất, mức độ của các vụ án xâm hại tình dục trẻ em gái có diễn biến ngày càng nghiêm trọng và phức tạp; thể hiện sự suy đồi đạo đức, thái độ coi thường tính mạng, sức khỏe, tinh thần trẻ em gái của một bộ phận người trong xã hội. Những vụ xâm hại tình dục đều để lại hậu quả rất nặng nề, không chỉ gây tổn thương về thể chất mà còn cả về mặt tâm lý, khiến các em luôn sống trong sự sợ hãi và sự ám ảnh; đồng thời rất khó hòa nhập lại với cộng đồng; gây trở ngại rất lớn cho quá trình xã hội hóa nhân cách của các em. Đáng lưu ý là, thống kê tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gái cho thấy, có một phần tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gái trong thực tế đã xảy ra nhưng vì những lý do khác nhau mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chưa phát hiện được, chưa bị xử lý và chưa đưa vào thống kê hình sự, đó chính là tội phạm ẩn. Tội phạm ẩn trong các vụ xâm hại tình dục trẻ em gái chủ yếu là tội phạm ẩn tự nhiên có lý do từ phía bị hại.

Để phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả đối với loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gái, đòi hỏi việc phân tích nguyên nhân, điều kiện nảy sinh tội phạm cần phải tiến hành trên nhiều góc độ khác nhau, trong đó không thể bỏ qua việc nghiên cứu yếu tố nạn nhân của loại tội phạm này. Thực tế cho thấy, trong nhiều vụ án đã xảy ra của loại tội phạm này, nạn nhân lại đóng vai trò là một trong những yếu tố trong cơ chế phát sinh tội phạm.

Yếu tố nạn nhân của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gái là những đặc điểm về mặt sinh học, tâm lý, xã hội của nạn nhân, đóng vai trò là nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu và dâm ô đối với trẻ em gái từ chủ thể của tội phạm. Có thể nhận thấy yếu tố nạn nhân của loại tội phạm này thường ở những dạng sau:

- Nạn nhân thiếu cảnh giác trong việc bảo vệ bản thân. Những người bị hại thuộc dạng này thường là các em gái tuổi mới lớn với nhận thức xã hội còn hạn chế, kỹ năng sống còn chưa được trang bị đầy đủ, nhất là những em sinh ra trong gia đình thiếu sự chăm sóc, quản lý, giáo dục của cha mẹ. Điển hình như trường hợp em D vừa bước sang tuổi 13 lần đầu tập uống rượu trong buổi dự sinh nhật bạn, do không còn kiểm soát được bản thân nên D đã bị lạm dụng tình dục. Ba đối tượng thực hiện hành vi hiếp dâm D không ai xa lạ chính là bạn nhậu chung trước đó, bao gồm: Huỳnh Quốc Bảo (sinh năm 1988), Nguyễn Văn Nghiệp (sinh năm 1991) cùng ngụ xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và Lê Văn Duy (sinh năm 1993, ngụ xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long). Theo lời các đối tượng kể thì vào ngày 6/9/2012, sau khi nhậu ở quán ALO 100 (Phường 5 - thành phố Vĩnh Long), Bảo, Nghiệp, Duy cùng với một số bạn khác đã ngà say. Bảo rủ tất cả về nhà nhậu tiếp và sau tiệc này, tất cả kéo nhau ra chòi giữ vườn của gia đình Nghiệp hái trái cây. Tại đây, D say rượu nằm chung võng với Nghiệp một lát sau thì bảo mệt rồi ngủ thiếp đi. Nghiệp bồng D sang chiếc giường trong chòi nằm ngủ. Nhìn D dáng người phổng phao, cả ba thanh niên này đã nảy sinh ý đồ hiếp dâm.

- Nạn nhân có lối sống không lành mạnh, dễ dãi và buông thả trong các quan hệ khác giới. Đây là hệ quả của việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục giới tính ở nhà trường, gia đình và cộng đồng còn chưa đầy đủ và hiệu quả; cũng như do ảnh hưởng của văn hóa phẩm kích động, bạo lực; phim, ảnh khiêu dâm, kích dục trên Internet, cùng với sự yếu kém về tính tự tu dưỡng của bản thân nạn nhân. Điển hình như trường hợp H.T.D.B (sinh năm 1997), trú xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Mặc dù chưa đầy 16 tuổi, B đã có quan hệ tình dục bừa bãi với nhiều người, trong số đó có Lê Đức Dũng (sinh năm 1991), người cùng huyện, học chưa hết lớp 8. Ngày 1/9/2011, sau khi ăn uống với mấy người bạn, trên đường về nhà, Dũng đã gặp B sống cách nhà Dũng chừng 5km, đang đứng cạnh chiếc xe đạp trong đêm tối. Chỉ sau vài lời gạ gẫm làm chuyện “người lớn”, dù chưa một lần gặp mặt, nhưng B vẫn đồng ý với lời đề nghị của Dũng. Vài lần sau đó, Dũng tiếp tục gạ gẫm làm chuyện “người lớn” với B, không những không bị khước từ mà Dũng còn được B “đón nhận” vui vẻ. 

- Nhận thức của nạn nhân bị xâm hại tình dục còn hạn chế, không tố giác kịp thời để được cứu giúp, mà có thái độ cam chịu để cho hành vi xâm hại tình dục xảy ra nhiều lần. Nạn nhân có tâm lý e ngại, sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bản thân và gia đình hoặc sợ bị đe dọa nên không dám tố cáo với chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể để có biện pháp can thiệp kịp thời mà âm thầm chịu đựng cho đến khi không thể chịu đựng được nữa mới gửi đơn tố cáo hành vi xâm hại tình dục. Đây thường là những nạn nhân của các vụ án xâm hại tình dục nhạy cảm (vụ án mang tính chất loạn luân giữa những người cùng quan hệ huyết thống).

Điển hình như trường hợp của cháu L, con gái anh Nguyễn Văn Hùng, sinh ra và lớn lên ở thôn Bình Tây, xã Xuân Lâm, thị xã sông Cầu, Phú Yên bị hai người anh họ là Võ Thanh Tâm và Trần Đặng Nguyên cưỡng hiếp nhiều lần. L chưa hiểu rõ hậu quả của những hành động trên, sợ hãi không dám đem chuyện kể cùng ai vì luôn bị Tâm và Nguyên đe dọa mà chỉ một mình cam chịu. Hệ quả, đến lúc bị phát hiện thì đã có thai 7 tháng.

Lê Thị T, sinh  năm 2003, sinh ra trong gia đình có cha là Lê Văn Thống (sinh năm 1976, ngụ phường An Hải Tây, tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) và mẹ là Nguyễn Thị Liễu (sinh năm 1976, quê Quảng Nam) đều không có công việc ổn định, cuộc sống rất khó khăn. Mặc dù đã có quan hệ vợ chồng với hai người phụ nữ khác, từng giở trò dâm dục với chị gái của cháu T nhưng không thành,  khoảng tháng 9/ 2013, Thống bắt đầu thực hiện hành vi giao cấu với T. Do còn nhỏ, chưa nhận thức được hành vi đồi bại của cha, T chỉ âm thầm chịu đựng sự đau đớn thể xác suốt một thời gian dài. Hậu quả, cuối tháng 2/2014, kết quả khám của bệnh viện tâm thần Đà Nẵng kết luận cháu T bị chứng “rối loạn thích ứng trầm cảm” và phải nhập viện điều trị.

Qua phân tích, điều đáng nói là gia đình bị hại lại thiếu hiểu biết, sợ rắc rối; lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình, đôi khi nhẫn nhịn, nhìn con đau đớn nhưng không dám tố giác vì sợ mất tình cảm, mặt khác sợ mang tiếng, nghĩ chuyện đã rồi nên chỉ thỏa thuận bồi thường thiệt hại về mặt vật chất là xong, đã gây không ít khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu cộng với sự hợp tác không chặt chẽ của người bị hại, không kịp thời tố cáo để giám định ngay nên thiếu bằng chứng cụ thể để buộc tội kẻ xấu, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, số lượng các vụ án xâm hại tình dục trẻ em được đưa ra xét xử lưu động công khai ít hơn rất nhiều so với số lượng vụ án xảy ra trên thực tế. Tính trung bình mỗi năm, nước ta có tới gần 1.000 vụ xâm hại tình dục trẻ em được phát hiện, nhưng chỉ có 40% số vụ bị mang ra xét xử hình sự, số còn lại đều bỏ trốn hoặc nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Số vụ bị xử lý hình sự là quá ít nên chưa đủ sức răn đe, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gái ngày một gia tăng.

Từ việc phân tích các yếu tố nạn nhân ở trên, để góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm hiếp dâm trẻ em cần chú ý đến một số giải pháp sau đây:

Một là, lực lượng Công an cơ sở cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân về nội dung các văn bản pháp luật như: Luật hình sự; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vấn đề bạo lực tình dục và phòng, chống bạo lực tình dục trẻ em, cũng như về quyền của trẻ em để mọi người thấy rõ được tầm quan trọng và tính cấp thiết trong vấn đề bảo vệ trẻ em trước những mối đe dọa, vấn đề trang bị cho trẻ em những kĩ năng sống để có cách đối phó phù hợp với những thay đổi nhanh chóng của môi trường sống. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình ngắn hạn, dài hạn cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em gái vào trong sinh hoạt thường kỳ của thôn, ấp, tổ dân phố. Ngoài ra, Công an phường, xã cần phối hợp chặt chẽ với cán bộ của đài phát thanh tại địa bàn xây dựng các câu chuyện pháp luật, câu chuyện cảnh giác, tin vắn an ninh liên quan đến vấn đề xâm hại tình dục trẻ em gái để người dân nhận thức được sự nghiêm trọng của tình trạng xâm hại tình dục trẻ em gái và có ý thức tham gia vào việc phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh đối với loại hành vi lệch chuẩn này; đồng thời, giúp trẻ em gái có ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục.

Thứ hai, lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội nói chung và Cảnh sát khu vực và Công an phụ trách xã về an ninh, trật tự nói riêng cần làm tốt công tác quản lý con người tại địa bàn, thông qua công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, quản lý cư trú. Qua việc nắm chắc bốn nội dung về con người là: lai lịch bản thân, mối quan hệ gia đình, nghề nghiệp, đời sống kinh tế, thái độ chính trị; và việc chủ động, tích cực thu thập thông tin, nắm bắt kịp thời tình hình trên địa bàn cụ thể có thể phát hiện những người có hành vi xâm hại tình dục trẻ em gái cũng như góp phần ngăn ngừa loại hành vi này xảy ra.

Thứ ba, lực lượng Cảnh sát khu vực và Công an phụ trách xã về an ninh, trật tự cần tham mưu và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể xã hội khác thiết lập, công khai số điện thoại, hộp thư điện tử và địa chỉ tiếp nhận tố cáo về hành vi xâm hại tình dục trẻ em, cũng như các hỗ trợ tư vấn pháp lý cần thiết. Sự giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo. Ngoài ra, cần đưa nội dung tình hình xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em gái vào trong các báo cáo tổng kết, đánh giá định kỳ về tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Việc dành sự quan tâm thích đáng đối với việc ngăn ngừa và đấu tranh quyết liệt đối với tội phạm hiếp dâm trẻ em gái thể hiện qua những việc làm nêu trên sẽ có ý nghĩa đáng kể để đẩy lùi tình trạng đáng báo động này trong thực tiễn hiện nay.

ThS. ĐỖ THỊ THU TRANG- Bộ môn Tâm lý - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 5+6/2015

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác