Thứ Ba, 27/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số vướng mắc, bất cập tiếp tục đặt ra tại các văn bản pháp luật về cư trú hiện hành
Hình minh họa: Công dân làm thủ tục cư trú tại Công an quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh.

...Cụ thể hóa điều này, ngày 29/11/2006, Luật Cư trú - Luật số 81/2006/QH11 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2007, sự ra đời của Luật Cư trú đã mở rộng và phát huy quyền tự do cư trú của công dân, gắn với yêu cầu quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự, đáp ứng kịp thời xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Để hoàn thiện hơn nữa các quy định trong lĩnh vực cư trú, đáp ứng yêu cầu quản lý cư trú đang bức thiết đặt ra, ngày 20/6/2013 Quốc hội đã thông qua Luật số 36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014. Kèm theo đó là sự ra đời của Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Cư trú, thay thế Nghị định 56/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

Trên cơ sở những văn bản pháp lý về lĩnh vực cư trú mới được điều chỉnh, lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính (QLHC) về trật tự xã hội (TTXH) đã đồng loạt ra quân, nhanh chóng quán triệt và triển khai sâu rộng công tác quản lý cư trú tới từng địa bàn cơ sở.

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2014, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an các địa phương trên toàn quốc đã tiến hành đăng ký thường trú cho 221.790 hộ với 1.108.962 nhân khẩu; đăng ký tạm trú cho 195.311 hộ với 781.244 nhân khẩu; tiếp nhận thông báo lưu trú trên 4 triệu lượt; quản lý tạm vắng 97.825 trường hợp; tổ chức kiểm tra hơn 1.9 triệu lượt hộ; phát hiện, xử lý 19.529 trường hợp vi phạm.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong các nội dung cụ thể của pháp luật cư trú vẫn còn một số những tồn tại, vướng mắc, bất cập cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn dẫn tới việc tổ chức thực hiện quản lý cư trú tại nhiều địa phương không thống nhất, hiệu quả đạt được trong công tác quản lý chưa thực sự cao.

Thứ nhất, chưa thống nhất trong cách hiểu về nội dung của công tác đăng ký, quản lý cư trú.

Tại Đoạn 2, Điều 1, Luật Cư trú quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú”. Với quy định này, công tác đăng ký, quản lý cư trú được hiểu gồm 2 nội dung là: Đăng ký, quản lý thường trú và đăng ký, quản lý tạm trú.

Tuy nhiên, tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định 31/2014/NĐ-CP Quy định các nội dung về hộ khẩu (mà thực chất chính là các nội dung về cư trú) gồm:

“a) Đăng ký, quản lý thường trú

b) Đăng ký, quản lý tạm trú

c) Thông báo lưu trú

d) Khai báo tạm vắng”

Như vậy, tại quy định này, công tác đăng ký, quản lý cư trú không chỉ là đăng ký, quản lý thường trú và đăng ký, quản lý tạm trú mà còn cả hoạt động thông báo lưu trú và khai báo tạm vắng.

Thứ hai, chưa có sự phân biệt về điều kiện đăng ký thường trú áp dụng đối với công dân ngoại tỉnh với công dân ở ngoại thành khi đăng ký thường trú vào các quận nội thành.

Tại Khoản 1, Điều 20, Luật Cư trú; Điểm b, Khoản 1 và Khoản 4, Điều 8, Nghị định 31/2014/NĐ-CP quy định về thời gian tạm trú để được đăng ký thường trú trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương.

- Tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên tại thành phố trực thuộc trung ương đối với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương đó.

- Tạm trú liên tục 2 năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.

- Tạm trú liên tục 3 năm tại các quận nội thành Hà Nội.

Với quy định về điều kiện thời gian công dân đăng ký tạm trú để được đăng ký thường trú tại các quận nội thành, việc công dân trước đó có hộ khẩu thường trú ở tỉnh ngoài hay hộ khẩu tại ngoại thành của thành phố trực thuộc trung ương đó đều bị đánh đồng như nhau. Trong khi đó, công dân ở tỉnh ngoài muốn nhập hộ khẩu thường trú vào các địa bàn ngoại thành của thành phố trực thuộc trung ương phải tạm trú ở đó từ đủ 1 năm trở lên. Do đó, cần thiết có sự phân biệt giữa hai loại nhân khẩu này dưới góc độ điều kiện đăng ký thường trú để đánh giá đúng tính chất cư trú, các tác động về sức ép dân số đối với các thành phố trực thuộc Trung ương nói chung.

Thứ ba, bất cập trong phân cấp thẩm quyền đăng ký thường trú tại các địa bàn trung tâm.

Thẩm quyền trong đăng ký thường trú được quy định tại Khoản 1, Điều 21, Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn kèm theo. Trường hợp công dân đăng ký thường trú tại xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh, thẩm quyền thuộc về trưởng Công an cấp xã; trường hợp công dân đăng ký thường trú tại thị xã, thành phố thuộc tỉnh hay tại thành phố trực thuộc trung ương, thẩm quyền đăng ký thuộc về trưởng Công an cấp huyện. Như vậy, có một thực tế, trưởng Công an xã là lực lượng bán chính quy, nhưng có toàn bộ thẩm quyền đăng ký, quản lý thường trú, đây là một nội dung cơ bản và rất quan trọng của cư trú. Trong khi đó, tại thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tại thành phố trực thuộc trung ương, đặc biệt tại các quận nội thành, Cảnh sát khu vực, Trưởng Công an phường, thậm chí là Đội trưởng đội Cảnh sát QLHC về TTXH, là Công an chính quy không có thẩm quyền đăng ký thường trú, mà thẩm quyền thuộc về Trưởng Công an cấp huyện. Hơn nữa, địa bàn trung tâm là những địa bàn đông dân cư, tính chất cư trú phức tạp, có địa bàn lên đến hàng vạn nhân khẩu, người đứng đầu Công an một quận với rất nhiều các đầu việc cần giải quyết trong lĩnh vực an ninh, trật tự. Việc đặt bút ký duyệt của lãnh đạo Công an quận cho công dân đăng ký thường trú nhưng thực tế lại không biết công dân đó là ai, cư trú như thế nào mà hoàn toàn chỉ dựa vào hồ sơ do cấp dưới đề xuất. Do đó, theo tác giả, để phù hợp với thực tế, nên phân cấp thẩm quyền đăng ký thường trú về cơ sở, mà cụ thể là trao cho trưởng Công an cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) đối với các địa bàn là đô thị. Điều này sẽ đảm bảo sự sát sao của người có thẩm quyền ký duyệt với đối tượng là công dân trong diện đăng ký thường trú.

Thứ tư, bất cập trong một số trường hợp xóa đăng ký thường trú.

Tại Điều 22, Luật Cư trú quy định về những trường hợp xóa đăng ký thường trú:

a) Chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;

b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;

c) Đã có quyết định hủy đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;

d) Ra nước ngoài để định cư;

đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xóa đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.”

Riêng với trường hợp công dân đã đăng ký thường trú mà ra nước ngoài định cư, Luật Cư trú không quy định cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý xuất nhập cảnh với Cảnh sát QLHC về TTXH. Do đó, cơ quan quản lý thường trú công dân không có cơ sở để làm thủ tục xóa đăng ký thường trú. Dẫn tới việc hồ sơ quản lý thường trú công dân vẫn có, song thực tế, công dân lại không sinh sống tại Việt Nam. Cũng tương tự như vậy đối với trường hợp công dân chuyển đi nơi khác nhưng không làm thủ tục cắt khẩu, hoặc người đang chấp hành án phạt tù chung thân, lâu năm tại trại giam cũng không trong diện xóa đăng ký thường trú. Điều này dẫn tới sự khác biệt giữa quản lý hồ sơ và quản lý thực tế việc công dân cư trú.

Thứ năm, Luật Cư trú chưa quy định cụ thể về cách hiểu và áp dụng đối với cụm từ “thường xuyên sinh sống”.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Nghị định 31/2014/NĐ-CP: “Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống”. Quy định về mức độ “thường xuyên sinh sống” chưa cụ thể, rõ ràng, chỉ mang tính định tính, dẫn tới cách hiểu và cách áp dụng ở mỗi địa phương là không giống nhau. Có nơi coi việc công dân mỗi tuần cư trú 2 - 3 ngày là “thường xuyên sinh sống”, có nơi lại yêu cầu công dân phải cư trú nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng mới được coi là “thường xuyên sinh sống”. Để tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc, cụ thể giúp lực lượng Cảnh sát khu vực đề xuất đăng ký thường trú cho công dân, pháp luật cư trú cần thiết quy định cụ thể vấn đề này, thiết lập tính định lượng xác định “thường xuyên sinh sống” về cư trú của công dân để Công an các địa phương thống nhất áp dụng.

Trên đây là một số vướng mắt, bất cập của hệ thống pháp luật về cư trú hiện hành cũng như một số kiến nghị, đề xuất khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác đăng ký, quản lý cư trú đối với công dân, tác giả mạnh dạn đưa ra trao đổi cùng bạn đọc n

 

ThS. ĐINH THẾ CÁT, Khoa Nghiệp vụ Cảnh sát QLHC về TTXH - Học viện CSND

NGUYỄN MINH HẢI - Học viên Cao học - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 5+6/2015

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác