Thứ Ba, 27/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Tăng cường xử lý các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng góp phần thực hiện Quyết định số 1788/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Hình minh họa: Nhiều các bệnh viện, trạm y tế đang gặp khó trong việc xử lý lượng rác thải y tế

Sự phát triển của hệ thống các cơ sở y tế trong những năm vừa qua đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng đã đặt ra những thách thức cấp thiết đối với công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở khám chữa bệnh. Trong đó có vấn đề xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo định hướng và mục tiêu của Chính phủ.

 Căn cứ vào Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tổng số cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử lý trong giai đoạn 1 (2003 - 2007) của ngành y tế là 84/439 cơ sở (bao gồm: 73 cơ sở do các tỉnh quản lý, chiếm tỷ lệ 86,90%; 5 cơ sở do Bộ Quốc phòng quản lý, chiếm tỷ lệ 5,95% và 6 cơ sở do Bộ Y tế quản lý, chiếm tỷ lệ 7,14%). Nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ sở nêu trên là nâng cấp cải tạo hệ thống xử lý nước thải (có 02 cơ sở), xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn (có 82 cơ sở). Trong quá trình triển khai công tác xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ năm 2003 đến năm 2013 đã triển khai xử lý được 74/84 cơ sở y tế (chiếm tỷ lệ 88,1%) còn lại 10 cơ sở y tế là các bệnh viện chưa hoàn thành xử lý (chiếm tỷ lệ 11,9%). Thực tiễn cho thấy, việc thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đã không đạt được mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2003 - 2007 đối với các cơ sở y tế. Để tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực y tế, góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và chỉ đạo thực hiện Quyết định số 2038/2011/QĐ-TTg về Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015. Mục tiêu của Đề án đến năm 2015 là: Đối với khí thải phát sinh trong lĩnh vực y tế, tất cả các cơ sở y tế phát sinh khí thải nguy hại thực hiện xử lý khí thải đảm bảo đáp ứng được tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia về khí thải phát sinh trong hoạt động của các cơ sở y tế; đối với chất thải rắn y tế, cả các cơ sở y tế tuyến trung ương, tỉnh, cơ sở y tế thuộc khu vực tư nhân và 70% cơ sở y tế tuyến huyện phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật đối với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia về xử lý chất thải rắn y tế; đối với nước thải y tế tất cả các cơ sở y tế tuyến Trung ương và cơ sở y tế thuộc khu vực tư nhân, 70% cơ sở y tế tuyến tỉnh và 50% cơ sở y tế tuyến huyện thực hiện xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Quá trình triển khai thực hiện Đề án, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành khác có liên quan đã tăng cường công tác chỉ đạo, thanh tra, kiểm các cơ sở y tế nhằm đẩy nhanh tốc độ xử lý các cơ sở còn tồn tại, không để phát sinh mới các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chưa đạt được những kết quả theo mục tiêu, yêu cầu đề ra. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, xác định phương hướng, mục tiêu đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020. Quyết định đã chỉ rõ, các cơ sở y tế (10 bệnh viện) trong danh mục theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg cần phải hoàn thành việc xử lý trước ngày 31/12/2015. Cũng theo Quyết định trên, trong giai đoạn 2016 - 2020 cần tiếp tục xử lý 118 cơ sở y tế (các bệnh viện tuyến huyện) gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Thực tiễn cho thấy, việc triển khai thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ về xử lý các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng còn có những tồn tại, hạn chế dẫn đến hiệu quả triển khai chưa đáp ứng được mục tiêu theo kế hoạch đề ra. Theo chúng tôi, những tồn tại, hạn chế đó xuất phát từ một số những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, nhiều địa phương chưa quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến mục tiêu của Kế hoạch cho các cơ sở y tế, các đơn vị quản lý có liên quan và người dân. Các cơ sở y tế, cơ quan quản lý chưa nhận thức rõ trách nhiệm, mục tiêu, nội dung cần triển khai và kết quả cần đạt được trong việc thực hiện việc xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các địa phương (Sở Y tế một số tỉnh như Cao Bằng, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế...).

Hai là, hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về môi trường chưa phát huy vì hầu hết các cơ sở y tế cần phải xử lý ô nhiễm triệt để thuộc khu vực công ích, phục vụ trực tiếp cho hoạt động khám chữa bệnh do đó việc triển khai xử lý còn chậm, cơ quan quản lý nhà nước khó áp dụng các biện pháp "mạnh" như tạm đình chỉ hoạt động, cấm hoạt động khi chưa xử lý triệt để. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường chưa được tiến hành thường xuyên. Hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng có liên quan trong kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa của pháp luật.

Ba là, cơ chế, chính sách và các điều kiện để đảm bảo nguồn lực phục vụ cho việc xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đặt ra. Các bộ, ban, ngành có liên quan đã xây dựng, ban hành hệ thống văn bản pháp luật về cơ chế, chính sách và đầu tư nguồn lực, tuy nhiên, việc triển khai áp dụng còn nhiều vướng mắc, bất cập về các chính sách trợ nguồn vốn đầu tư, chính sách ưu đãi về đất đai, chính sách về nghiên cứu, ứng dụng công nghệ xử lý chất thải y tế. Chưa có các chính sách để thu hút, khuyến khích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tư nhân tham gia. Lãnh đạo các cơ sở y tế còn có tư tưởng phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước.

Bốn là, việc lựa chọn, đầu tư xây dựng các công trình, hệ thống xử lý chất thải (trạm xử lý nước thải, hệ thống đốt chất thải rắn nguy hại, hệ thống xử lý khí thải...) tại một số cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng gặp nhiều khó khăn về khoa học, công nghệ xử lý. Hiện nay, ở nước ta đang thiếu các mô hình công nghệ xử lý chất thải y tế hiện đại, thân thiện với môi trường để xử lý chất thải y tế đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về môi trường. Trong khi đó, việc đầu tư các hệ thống xử lý ngoại nhập gặp nhiều khó khăn về kinh phí, nhiều mô hình xử lý ngoại nhập không phù hợp với thực tiễn xử lý chất thải tại các cơ sở y tế của Việt Nam.

Trên cơ sở khảo sát thực trạng, xác định rõ những nguyên nhân chủ yếu, để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực y tế, tăng cường, đảm bảo tiến độ xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, qua đó góp phần thực hiện có hiệu quả Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020. Theo chúng tôi, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, cần tăng cường vai trò của Ban chỉ đạo liên ngành trong việc triển khai, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra và đánh giá hiệu quả công tác xử lý triệt để các cơ sở y tế còn tồn tại theo Quyết định số 64/QĐ-TTg và 118 cơ sở y tế tuyến quận, huyện được xác định trong danh mục theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg. Để tăng cường được vai trò này cần xây dựng quy chế hoạt động, tổ chức, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo. Phân công trách nhiệm trực tiếp cho từng thành viên trong Ban chỉ đạo.

Hai là, các bộ, ngành có liên quan đến các cơ sở y tế và chính quyền địa phương cần tập trung tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, mục tiêu của Kế hoạch. Trên cơ sở công tác này để nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo, cán bộ, nhân viên, bệnh nhân và chính quyền, nhân dân địa phương tại các cơ sở y tế trong danh mục gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Công tác tuyên truyền cần phải nâng cao được nhận thức về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan quản lý có liên quan. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc công khai các thông tin về việc xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Ba là, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban chỉ đạo liên ngành và chính quyền các địa phương cần chủ động trong xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc tạo hành lang pháp lý, cơ chế chính sách thuận lợi cho việc phát huy hiệu quả các nguồn lực về tài chính, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ... Đẩy mạnh đa dạng hóa việc huy động nguồn vốn đầu tư cho xử lý các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cần tập trung theo hướng huy động nguồn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân theo hình thức xã hội hóa, huy động các nguồn vốn từ ODA cho hoạt động xử lý triệt để ô nhiễm môi trường tại các cơ sở y tế.

Bốn là, Bộ Y tế cần tăng cường chỉ đạo công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, mô hình quản lý, xử lý chất thải y tế tiên tiến, thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn, trên cơ sở đó, triển khai áp dụng đối với các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đối với tình hình hiện nay, cần tập trung phát triển các công nghệ nhỏ gọn, ít chiếm diện tích có thể triển khai tại các cơ sở y tế không tập trung.

Năm là, tổ chức thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về việc xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Bộ Y tế cần chủ động trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở cần xử lý, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban chỉ đạo liên ngành xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá tiến độ thực hiện việc triển khai các giải pháp khắc phục ô nhiễm, xây dựng hệ thống xử lý... tại các cơ sở còn tồn tại và các cơ sở mới theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg để kịp thời chỉ đạo thực hiện.

Sáu là, trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường tại các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, lực lượng Cảnh sát môi trường cần chủ động làm tốt công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm. Tổ chức thực hiện tốt các nội dung phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế trong kiểm tra, phát hiện và xử lý các cơ sở vi phạm.

 

ThS. NGUYỄN QUANG HUY - Khoa Đào tạo SĐH&BDNC - Học viện CSND

ThS. NGUYỄN HỮU PHÚC - Khoa Cảnh sát môi trường - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 5+6/2015

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác