Thứ Ba, 27/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Biện pháp vận động quần chúng trong phòng ngừa vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong tình hình hiện nay

Môi trường” và “bảo vệ môi trường” lâu nay vẫn là thách thức và là vấn đề quan tâm mang tính toàn cầu. Ở tất cả các quốc gia đều xem bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ cấp bách. Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường đã ra đời từ năm 2005 và đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 sửa đổi bổ sung và thông qua ngày 23/6/2014. Tuy có những định hướng mang tính chiến lược; công cụ thể chế đang dần được hoàn thiện; hệ thống bộ máy tổ chức của các cơ quan bảo vệ môi trường đang được chức năng hóa, nhưng ô nhiễm môi trường vẫn là bài toán khó; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có chiều hướng gia tăng với tính chất nghiêm trọng và với những thủ đoạn tinh vi đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của đất nước. Vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta những năm gần đây xảy ra trên diện rộng, biểu hiện đa dạng về hành vi.

Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 20/4/2014 cả nước có Việt Nam hiện có 286 khu công nghiệp và 20 khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lý nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: Nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần... Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000 m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận... Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thủy lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân.

Ngoài ra hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép, nhựa phế liệu lẫn rác thải nguy hại vẫn diễn ra khá thường xuyên. Công tác quản lý, xử lý rác thải y tế còn nhiều sai phạm nên để xảy ra tình trạng nhân viên bệnh viện cấu kết hoặc buông lỏng để rác thải y tế từ các lò thiêu đốt rác được tiếp tục “phân loại”, bán cho các cơ sở kinh doanh phế liệu (như Bệnh viện Lao Trung ương), thậm chí bệnh phẩm để bừa bãi, lẫn với rác sinh hoạt gây nguy cơ lây lan dịch bệnh. Trên lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, tình trạng vận chuyển trái phép qua biên giới các loại gia súc, gia cầm chưa qua kiểm dịch diễn ra nhiều nơi. Do công tác quản lý, xử lý chất thải nguy hại chưa được quan tâm đúng mức, nhiều tổ chức, cá nhân hành nghề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải không thực hiện đúng quy định như sử dụng phương tiện không chuyên dụng, không phân loại chất thải sau khi thu gom, chôn lấp, chôn lẫn rác thải nguy hại với rác thải thông thường

Trước bức tranh toàn cảnh môi trường đang bị hủy hoại, pháp luật về bảo vệ môi trường đang bị các khách thể xâm phạm nghiêm trọng thì trách nhiệm đặt ra không phải của riêng cơ quan nhà nước được chức năng hóa nhiệm vụ bảo vệ môi trường, mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi công dân và cả cộng đồng xã hội. Hay nói cách khác bảo vệ môi trường nói chung, công tác phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng thực sự có hiệu quả, hiệu lực khi nó được xã hội hóa, trong đó nòng cốt là cơ quan chuyên trách bảo vệ môi trường. Phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài, từ những biện pháp công tác mang tính nghiệp vụ của cơ quan bảo vệ pháp luật đến sự cố gắng chung của toàn xã hội. Trên cơ sở những công cụ về mặt chính sách, sự thể chế hóa về pháp lý, lực lượng Công an được sử dụng các biện pháp công tác của ngành: vận động quần chúng, pháp luật, kinh tế, nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật... trong đó biện pháp vận động quần chúng có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật về môi trường. Với nội dung bài viết, chúng tôi tập trung đề cập về biện pháp vận động quần chúng trong phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ nhất, tổ chức vận động quần chúng trên lĩnh vực bảo vệ an ninh môi trường là cơ sở để xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. Vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo an ninh môi trường là yêu cầu mang tính cấp bách để phát triển và bền vững trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2011 - 2020, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra mục tiêu chiến lược: “Đến năm 2020 hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng”. Với quan điểm “lấy dân làm gốc” nhằm khơi dậy và phát huy mọi khả năng tiềm tàng sức mạnh to lớn của đông đảo quần chúng nhân dân trong bảo vệ môi trường, Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định: “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.” Và giải pháp chính mang tính tiên quyết “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường”. Do vậy, tổ chức, vận động quần chúng bảo vệ môi trường đến từng địa bàn cơ sở xã, phường, thị trấn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, là biện pháp trọng tâm để đảm bảo an ninh môi trường. Thông qua tổ chức, vận động quần chúng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để gắn bó chặt chẽ giữa quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ môi trường. Các hình thức tổ chức, vận động quần chúng là đòn bẩy quan trọng để nâng cao ý thức tự nguyện, tự giác của quần chúng trong giữ gìn, bảo vệ môi trường ở từng đường phố, thôn, xóm, phường, xã, cơ quan, doanh nghiệp tạo thế chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật về môi trường.

Thứ hai, tổ chức, vận động quần chúng là một biện pháp công tác cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa đấu tranh chống các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Thông qua giáo dục ý thức, nâng cao tinh thần trách nhiệm của quần chúng chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng thế trận phòng ngừa xã hội giúp cho lực lượng Cảnh sát nhân dân kịp thời ngăn chặn, phát hiện, đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở từng địa bàn và trên phạm vi toàn xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang vận hành thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước đang trên đường hội nhập quốc tế, điều đó sẽ dẫn đến những thay đổi đáng kể tình hình kinh tế xã hội; bên cạnh đó là những mặt trái của kinh tế thị trường, trong đó có sự tác động xấu đến hiện trạng môi trường và những quan hệ pháp luật về bảo vệ môi trường. Sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần với vấn đề bảo vệ môi trường, phòng chống hủy hoại môi trường, đang là nhiệm vụ cấp bách đặt ra trong cuộc vận động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, phòng chống những sai phạm về bảo vệ môi trường trên một số cấp độ sau đây:

Một là, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao hiểu biết của người dân về các chủ trương, chính sách, pháp luật và các biện pháp bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực hoạt động vì môi trường cho các tổ chức quần chúng để họ tham gia hỗ trợ các hoạt động của địa phương là nền tảng cho sự thành công trong việc thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Cần cung cấp thông tin cho nhân dân về những vấn đề cần thiết của môi trường, trao đổi kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của các địa phương... Khi người dân đã có thông tin và nhận thức được nghĩa vụ và quyền lợi của họ khi tham gia bảo vệ môi trường, thì việc tham gia của cộng đồng mới đạt được hiệu quả. Nội dung tuyên truyền, giáo dục phải thiết thực, không phải chỉ hô hào chung chung mà phải kết hợp tuyên truyền, giáo dục với chương trình hành động để đem lại lợi ích cụ thể nào đó, từ đó mới nâng cao được tính tự nguyện của nhân dân. Việc tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân phải đa dạng dưới nhiều hình thức tuyên truyền, vận động khác nhau: Vận động tập trung, vận động cá biệt. Kết hợp chặt chẽ giữa sử dụng rộng rãi các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức sinh hoạt của các đơn vị dân cư, đơn vị sản xuất, các tổ chức, đoàn thể xã hội, để tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, nhân dân thấy rõ tính nghiêm trọng, nguy hại của những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Hai là, thiết lập và đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận, xử lý những thông tin báo tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Để phát huy được vai trò của quần chúng trong bảo vệ môi trường cần phải có những hình thức thích hợp, thiết lập và đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận, xử lý những thông tin tố giác tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường như: Xây dựng hòm thư tố giác vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, lập đường dây nóng để tiếp nhận những thông tin, tố giác của cán bộ, nhân dân về những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời có cơ chế chính sách đối với tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin có giá trị về những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Từ đó sẽ tạo thành dư luận xã hội lên án và đấu tranh mạnh mẽ đối với các hành vi gây tổn hại đến môi trường.

Ba là, xây dựng các mô hình tự quản về bảo vệ môi trường ở các khu vực dân cư. Thông qua hình thức này để xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, gắn liền giữa trách nhiệm của người dân trong phòng, chống các vi phạm pháp luật về môi trường với bảo vệ môi trường sống của người dân ở nơi cư trú, sinh sống, làm việc; đồng thời, thông qua cộng đồng dân cư xây dựng, thực hiện các quy ước, cam kết về bảo vệ môi trường; đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào trong các hương ước truyền thống của các cộng đồng dân cư, để xây dựng nếp sống, thói quen cho mỗi thành viên của cộng đồng về bảo vệ môi trường.

Bốn là, xây dựng các phường, xã gắn liền với cơ quan, doanh nghiệp an toàn về môi trường, đảm bảo an ninh môi trường đến từng địa bàn cơ sở. Trước hết cần xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực về môi trường để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường của từng cơ quan doanh nghiệp, gia đình, làng xã, khu phố. Đưa vấn đề bảo vệ môi trường đến với nhận thức của từng người dân bằng việc khôi phục và phát huy truyền thống yêu thiên nhiên, nếp sống gần gũi, gắn bó với môi trường. Phát hiện các mô hình, điển hình tiên tiến, các phường, xã, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp an toàn về môi trường để khen thưởng, phổ biến kinh nghiệm, nhân rộng; duy trì và phát triển giải thưởng môi trường hàng năm. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

ThS. TỪ NAM GIANG - Học viện CSND

Nguồn: Tạp chí Khoa học Công nghệ và môi trường - Bộ Công an

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác