Thứ Ba, 19/10/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Bàn về các nguyên tắc cơ bản trong Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)

1. Khái niệm, vai trò và chức năng của các nguyên tắc trong tố tụng hình sự

1.1. Khái niệm các nguyên tắc của tố tụng hình sự

Nguyên tắc là những đòi hỏi pháp lý có tính khái quát cao, là những yêu cầu, đòi hỏi, là cái cần có. Trong khi đó, pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự là cái tồn tại. Cái tồn tại phải được cải biến cho phù hợp với yêu cầu của cái cần có, nhưng trong hiện thực luôn luôn có một khoảng cách giữa hai phạm trù đó. Có thể lấy ví dụ về nguyên tắc tranh tụng trong cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta theo tinh thần của Chiến lược cải cách tư pháp. Thực hiện tranh tụng trong tố tụng hình sự là yêu cầu được đặt ra trong chiến lược nhưng yếu tố tranh tụng có được bao nhiêu trong cả hệ thống tố tụng hình sự, được phản ánh như thế nào trong các chế định và quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự và đã được các cơ quan tư pháp thực hiện như thế nào thì đó lại là vấn đề khác. Mặc dù vậy, tư tưởng về việc thực hiện tranh tụng với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự luôn luôn là cơ sở, thước đo cho việc đánh giá mức độ hoàn thiện của các chế định pháp luật và của thực tiễn tư pháp hình sự ở nước ta theo yêu cầu của cải cách tư pháp.

1.2. Vai trò, chức năng và vị trí của các nguyên tắc của tố tụng hình sự

Một nguyên tắc của tố tụng hình sự, sự “ràng buộc” của nó, giá trị điều chỉnh của nó có ý nghĩa đối với cả hệ thống tố tụng hình sự, có hiệu lực đối với tất cả chủ thể của các quan hệ tố tụng. Tuy nhiên, sự tác động của mỗi nguyên tắc là không như nhau ở từng giai đoạn của tố tụng hình sự. Muốn phát huy được hiệu lực của các nguyên tắc thì các nguyên tắc đó phải được đặt trong mối liên hệ, phối hợp với nhau, bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, trong số các nguyên tắc bao giờ cũng có những nguyên tắc chủ đạo, chi phối, ảnh hưởng đến việc áp dụng các nguyên tắc khác.

Nguyên tắc của tố tụng hình sự là điều kiện cho việc thực hiện các mục đích của tố tụng hình sự. Nếu như mục đích của tố tụng là cái mà các hoạt động của tố tụng hình sự cần đạt được thì nguyên tắc chỉ cho chúng ta thấy rằng, cần đạt được kết quả đó như thế nào. Điều đó có nghĩa là, nguyên tắc có vai trò hỗ trợ cho việc thực hiện mục đích của tố tụng hình sự.

Nguyên tắc của tố tụng hình sự có chức năng điều chỉnh hành vi tố tụng. Khả năng và hiệu lực điều chỉnh của nguyên tắc thể hiện ở hiệu lực của nó đối với các chủ thể tố tụng mà trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các chủ thể đó có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng giới hạn thẩm quyền, tuân thủ các nguyên tắc đã được pháp luật quy định. Không chỉ các vi phạm những quy định pháp luật tố tụng cụ thể mà vi phạm các nguyên tắc của tố tụng hình sự cũng phải được xem là căn cứ để hủy các quyết định tố tụng và vô hiệu các hành vi tố tụng.

Điểm mấu chốt của vấn đề về nguyên tắc của tố tụng hình sự là vai trò định hướng, chỉ đạo của nó đối với một loạt các hoạt động và các quan hệ trong tố tụng hình sự. Do đó, sẽ là nguyên tắc khi một quy định chung nào đó có tố chất này mà không nhất thiết phải gắn nó với toàn bộ các hoạt động và quan hệ tố tụng và càng không thể chỉ trực tiếp điều chỉnh các hoạt động và quan hệ tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Sở dĩ như vậy là vì tố tụng hình sự là một hệ thống thống nhất các hoạt động và các quan hệ tố tụng theo quy định của pháp luật, mọi quy định mà đặc biệt là các quy định có tính nguyên tắc, phải nhất quán và thống nhất với nhau. Chẳng hạn, không thể chấp nhận một tình hình khi mà giai đoạn điều tra được định hướng theo những nguyên tắc mang tính tố tụng thẩm vấn, xét hỏi, còn định hướng của giai đoạn xét xử là lại những nguyên tắc của tố tụng tranh tụng. Vì lẽ đó, các nguyên tắc của tố tụng hình sự đều có vai trò và vị trí như nhau và nhất thiết phải nhất quán với nhau trên một định hướng chung cho toàn bộ các hoạt động và quan hệ tố tụng hình sự.

2. Về các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam theo Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)

2.1. Bối cảnh ra đời và quá trình phát triển các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam

Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 được sửa đổi, bổ sung năm 2003 đã đánh dấu một giai đoạn mới và quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của tố tụng hình sự Việt Nam, phản ánh những thành tựu và nhận thức mới trong quá trình đổi mới đất nước, tạo cơ sở pháp lý cho sự thống nhất cao trong nhận thức thực tiễn bởi mức độ phát triển cao của pháp luật tố tụng hình sự.

Lần đầu tiên ở Việt Nam một hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự đã được xác lập cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự phản ánh sự thay đổi theo hướng dân chủ hơn, bình đẳng hơn trong các hoạt động và quan hệ tố tụng có kế thừa những tư tưởng chủ đạo của các giai đoạn trước.

Cùng với các thành tựu đổi mới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội theo hướng cải cách và hội nhập, tố tụng hình sự Việt Nam cũng đã từng bước đổi mới và hoàn thiện, nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tư pháp hình sự nói chung và của tố tụng hình sự nói riêng đã có nhiều chuyển biến và theo đó là sự nhận thức lại về hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Việc sửa đổi BLTTHS vào năm 2003 đã ghi nhận những chuyển biến đó. Trong số các sửa đổi, bổ sung căn bản nội dung các quy phạm và chế định của tố tụng hình sự thì sự thay đổi, bổ sung các nguyên tắc của tố tụng hình sự đã cho thấy sự chuyển hướng về chất của tố tụng hình sự nước ta. Điều đó, chắc chắn đã bắt nguồn từ những thay đổi quan trọng trong nhận thức về vai trò, tính chất, mục đích và các chức năng của tố tụng hình sự trong giai đoạn của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (1) đã được Hiến pháp ghi nhận; phản ánh những tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới”.

Hệ thống các nguyên tắc được quy định về cơ bản đã phản ánh được các quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về hoạt động tố tụng hình sự, đã tạo được những cơ sở xuất phát điểm quan trọng cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Tuy nhiên, tinh thần và nội dung của một số nguyên tắc được quy định trong BLTTHS hiện hành chưa phản ánh được đầy đủ những đổi mới quan trọng trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với các hoạt động tư pháp nói chung và đối với các hoạt động tố tụng hình sự nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được xác định rõ trong Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cũng đã có những nhận xét xác đáng về tính thiếu đồng bộ, tính tản mạn của các quy định được coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự trong BLTTHS năm 2003.

Nội dung của một số nguyên tắc được quy định trong BLTTHS năm 2003 không bảo đảm được tố chất của nguyên tắc với tính chất là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo các hoạt động tố tụng và quan hệ tố tụng mà nhiều nội dung trên thực tế chỉ là những quy định có tầm khái quát thấp, phần lớn liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền hoặc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

2.2. Bình luận về Chương II của Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (2)

Có thể khẳng định rằng, Dự thảo Chương II BLTTHS - những nguyên tắc cơ bản đã thể hiện được đầy đủ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta đối với cải cách tố tụng hình sự là tư tưởng về dân chủ hóa các quan hệ tố tụng, thực hiện tranh tụng trong quá trình tố tụng. Dân chủ hóa tố tụng hình sự, bảo đảm sự bình đẳng của các bên trong tố tụng hình sự, triệt để tôn trọng quyền con người, quyền công dân trong quá trình tiến hành tố tụng là xu hướng không thể đảo ngược của tố tụng hình sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Dự thảo Chương II BLTTHS đã cho thấy sự chuyển hướng về chất của tố tụng hình sự nước ta. Điều đó, chắc chắn đã bắt nguồn từ những thay đổi quan trọng trong nhận thức về vai trò, tính chất, mục đích và các chức năng của tố tụng hình sự trong giai đoạn của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận; phản ánh những tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta về cải cách tư pháp.

Điều 6: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

Đồng tình với những nội dung của cả 4 khoản của Điều 6 này trong Dự thảo, chúng tôi cho rằng, cần bỏ từ “bảo đảm” trong tên gọi của Điều này, bởi pháp chế là yêu cầu, nguyên tắc mà không chỉ là bảo đảm. Nói “bảo đảm” là làm hẹp nội dung của yêu cầu xuyên suốt tố tụng hình sự, lại không rõ ai bảo đảm?

Mặt khác, tố tụng hình sự là quá trình không chỉ tuân theo thủ tục mà còn là quá trình áp dụng pháp luật hình sự và các văn bản khác. Trong quá trình đó, khả năng có quy định pháp luật khác trái với BLTTHS có thể xảy ra. Bảo đảm vị trí ưu tiên của pháp luật tố tụng là biểu hiện của nội dung pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do đó, nếu được bổ sung thêm nội dung “khi áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự nếu có quy định trái với BLTTHS thì phải áp dụng quy định của BLTTHS” thì tinh thần đó sẽ nổi bật hơn, tạo sự thống nhất cao hơn trong áp dụng pháp luật.

Cần đưa nội dung tại khoản 2 Điều 7 vào nội dung nguyên tắc pháp chế “phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa” (bởi vì “bảo đảm tính hợp pháp”, “phòng chống vi phạm pháp luật” là những phạm trù liên quan đến pháp chế).

Điều 7: Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Nội dung Điều này của Dự thảo đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định tại Chương II của Hiến pháp năm 2013; theo đó, Dự thảo đã thể hiện rõ bẩy loại quyền cần được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong tố tụng hình sự:

- Quyền bình đẳng trước pháp luật;

- Quyền được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp bởi các cơ quan tiến hành tố tụng;

- Các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, về chỗ ở, đời sống riêng tư, v.v.

- Quyền được Tòa án xét xử kịp thời, công khai;

- Quyền khiếu nại, tố cáo trong các hoạt động tố tụng hình sự;

- Quyền được bồi thường thiệt hại;

- Quyền không bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác.

Có thể nói rằng những nội dung trên đây đã phản ánh đầy đủ tinh thần của Chương II Hiến pháp năm 2013.

Điều 8: Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự

Dự thảo đã đưa Tòa án ra khỏi trách nhiệm này. Đồng thời, Dự thảo cũng đã không quy định trách nhiệm phát hiện tội phạm, bởi phát hiện tội phạm không phải là yếu tố của tố tụng hình sự. Đây là cách làm đúng, thể hiện tinh thần của yêu cầu về tranh tụng trong tố tụng hình sự. Bởi vì trong tố tụng tranh tụng nhất thiết phải có chức năng khởi tố và chức năng xử lý vụ án hình sự độc lập với nhau.

Theo quan điểm của chúng tôi thì cần có thêm một khoản về quyền không truy tố. Đó là trong trường hợp được quy định tại Điều a, b, c của Bộ luật này thì thẩm quyền đó sẽ thuộc về cơ quan truy tố, phù hợp với định hướng của chính sách hình sự về áp dụng các biện pháp chuyển hướng đang được nghiên cứu áp dụng trong sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự nước ta.

Điều 9: Xác định sự thật của vụ án

Theo chúng tôi, nội dung của Điều 9 này không có ý nghĩa thực tế mà chỉ là một khẩu hiệu, một lời nhắc nhở và nếu vậy thì không có tính pháp lý. Trong Tố tụng hình sự mọi chủ thể đặc biệt là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được BLTTHS phân vai, phân nhiệm, có địa vị pháp lý tố tụng rõ ràng rồi.

Điều 10: Suy đoán vô tội

Theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì đây cần được coi là một nguyên tắc hoàn toàn mới của tố tụng hình sự Việt Nam. Đồng tình với nội dung và cấu trúc của Điều 10 của Dự thảo, chúng tôi cho rằng tại khoản 3 của Điều này cần thay cụm từ “làm sáng tỏ” bằng hai từ “loại bỏ”.

Điều 11: Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội

Tán thành với những bổ sung của Dự thảo. Theo đó, những cụm từ thường dùng tại BLTTHS hiện hành liệt kê những người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã được thay bởi từ “người bị buộc tội” là có tính khái quát cao.

Cần nói rõ các trường hợp được hưởng trợ giúp pháp lý nhằm làm rõ định hướng chính sách xã hội quan trọng này của Nhà nước ta như là một biểu hiện của quyền tiếp cận công lý của những người bị buộc tội.

Điều 13: Bảo đảm tranh tụng, công bằng trong xét xử

Đây là một điều hoàn toàn mới, được Hiến định ở nước ta. Do đó, không nên coi đây là sự sửa đổi, bổ sung.

Với ý nghĩa quan trọng của nguyên tắc này (khởi đầu từ Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị đến việc Hiến định) cần coi nội dung tranh tụng là một nguyên tắc riêng mà không nên kèm theo nội dung về công bằng ở đây, vì công bằng có nhiều nghĩa khác nhau.

Về nội dung, khoản 1 của Điều này đã định hình được các bên trong tố tụng, xác định các chức năng tố tụng của từng chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Đây là cách quy định có tố chất tranh tụng cao.

Khoản 3 của Điều này cũng đã góp phần làm rõ hơn tính tranh tụng của tố tụng hình sự, theo đó “quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần bổ sung một quy định: Mọi chứng cứ được các bên đưa ra tại phiên tòa đều được xem xét như nhau.

Điều 15: Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự

Điều 15 này của Dự thảo đã quy định những nội dung quan trọng của các cơ chế kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tố tụng hình sự, phản ánh yêu cầu về việc thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy nhiên khi nói đến giám đốc việc xét xử Dự thảo đã đưa ra hai phương án. Theo chúng tôi, phương án thứ nhất là phương án phù hợp. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, giám đốc việc xét xử là một biện pháp kiểm tra, giám sát tư pháp đặc trưng do Tòa án nhân dân tối cao thực hiện đối với các Tòa án mà mục đích là bảo đảm để việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

GS, TS. ĐÀO TRÍ ÚC

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 09/2015

___________

(1) Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 lần đầu tiên xác định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”..

(2) Dự thảo do Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thẩm tra, tháng 02/2015.

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác