Thứ Sáu, 19/1/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm tại Học viện Cảnh sát nhân dân và giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đang là vấn đề bức xúc của mọi người trong toàn xã hội bởi lẽ VSATTP có tác động trực tiếp đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống con người và do đó có ảnh hưởng đến chất lượng phát triển của xã hội và nòi giống. Vì vậy, công tác quản lý chất lượng VSATTP vừa là yêu cầu thường xuyên cấp bách, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của công tác hậu cần đảm bảo cho hoạt động giáo dục và đào tạo của Học viện, luôn nhận được sự quan tâm quản lý, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Ban Giám đốc, cấp ủy và lãnh đạo các đơn vị chức năng trong toàn Học viện.

I. Tình hình VSATTP tại Học viện CSND

VSATTP là tập hợp các điều kiện và biện pháp cần thiết để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính mạng con người. Để bảo đảm chất lượng VSATTP thì tất cả các khâu trong chuỗi bảo đảm chất lượng thực phẩm (từ khâu nuôi trồng, đánh bắt, đến sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, sử dụng) đều phải đạt vệ sinh và an toàn. Nếu bất kỳ khâu nào trong chuỗi trên không đạt yêu cầu thì nguy cơ ngộ độc thực phẩm đều có thể xảy ra. Đảm bảo VSATTP do vậy là trách nhiệm của tất cả mọi người trong toàn xã hội từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cho đến các nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và đến cả người tiêu dùng.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 400 loại bệnh lây truyền qua đường thực phẩm không an toàn. VSATTP đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai, dịch bệnh và nguồn nước sạch ngày càng hiếm. Khi người dân còn không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gì mà họ ăn và đã trở thành một điều xa vời. Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng Liên hiệp quốc nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị nhiễm độc và bà nhấn mạnh: “Một lần nữa, tôi xin khẳng định, VSATTP là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào”.

Theo WHO, mỗi năm tại Mỹ có 7.600.000 người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó có 325.000 trường hợp phải nhập viện, tử vong 5.000 người. Tại Anh, mỗi năm có 190 ca ngộ độc/1.000 dân. Nhật Bản, cứ 100.000 người có 40 ca ngộ độc thực phẩm mỗi năm. Tại Úc, mỗi năm có 4,2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm. Tại Việt Nam, từ năm 2005 đến 2008 cả nước có 761 vụ ngộ độc, với 26.596 người mắc, tử vong 226 người. Tại Học viện CSND tuy nhiều năm qua chưa xảy ra vụ ngộ độc ăn uống nào tại các bếp ăn tập thể song các vụ nghi ngộ độc do cá nhân tự ăn uống ngoài Học viện rải rác vẫn xảy ra. Thống kê cho thấy từ 21/12/2013 đến nay, bệnh xá đã khám chữa bệnh cho 49 lượt bệnh nhân có các dấu hiệu với các mức độ khác nhau của ngộ độc thức ăn.

Chất lượng VSATTP hiện nay rất đáng lo ngại, đã được nhiều lần các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh, cảnh báo như việc sử dụng không an toàn về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong chăn nuôi trồng trọt đánh bắt thủy hải sản… hiện nay còn khá phổ biến. Nước ta cũng có những vùng rau sạch, trái cây sạch, những trại chăn nuôi thực hiện đúng quy định, nhưng số lượng và tỷ lệ còn rất nhỏ, như rau sạch mới chỉ đạt 8,5%/tổng diện tích trồng rau, với cây ăn quả an toàn mới đạt khoảng 20%. Thực phẩm có chứa chất độc hoặc được bảo quản bằng hóa chất, chất phụ gia, phẩm màu công nghiệp có hại cho sức khỏe còn lưu hành rất nhiều trên thị thường như nước tương có chất 3-MCPD, nước mắm có u-rê, hải sản được ướp bảo quản bằng u-rê, trứng gà và sữa có chứa melamine, hạt dưa, ớt bột nhuộm phẩm màu có chứa Rhodamin B, bánh phở có tẩm formol, chả chứa hàn the, rau củ quả có dư lượng chất bảo vệ thực vật… Một số cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm nằm ngay cạnh cống rãnh hoặc gần ao tù, nước đọng, sử dụng dụng cụ lưu trữ, chế biến dơ, bẩn. Các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra đã từng phát hiện trong mứt có có vi khuẩn gây hại; hàng ngàn tấn thịt trâu, bò, lợn, gà, dê, cừu… đông lạnh hôi thối, hết hạn sử dụng vẫn được tái chế đưa ra thị trường. VSATTP tại các bếp ăn tập thể cũng rất đáng báo động. Nhiều vụ ngộ độc ăn uống với hàng trăm công nhân mắc tại các khu công nghiệp ở các tỉnh phía nam thời gian vừa qua là một ví dụ điển hình.

Là nhà trường của lực lượng vũ trang có quy mô ăn uống tập trung tại các bếp ăn tập thể cực lớn, hiện có tới hơn 6000 cán bộ chiến sĩ hàng ngày ăn uống tập trung tại bếp ăn nhà trường. Học viện đã có sự đầu tư mạnh mẽ cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các bếp ăn như hệ thống nồi hơi, thang máy vận chuyển thức ăn, máy xay thịt, inox hóa bàn ghế, dụng cụ chế biến thức ăn, phòng nghỉ trưa, phòng tắm, trang phục bảo hộ cho nhân viên, triển khai ăn tự chọn cho cán bộ, xây dựng nhà ăn văn hóa v.v…

Tuy có nhiều cố gắng song công tác VSATTP cũng còn một số bất cập đòi hỏi phải có thời gian và nguồn kinh phí đầu tư mới khắc phục đuợc như: diện tích nhà ăn chật hẹp, chưa thể bố trí dây chuyền chế biến một chiều từ sống tới chín. Vị trí bếp ngược hướng gió, có bếp còn phải bố trí chung với nơi ở của học viên, nguồn nước chưa đuợc đấu nối với nuớc máy của thành phố, khu vực nhà trường thấp trũng, cống rãnh tiêu thoát kém nên còn xảy ra tình trạng ứ đọng nuớc thải khi mưa. Bếp ăn nằm trong khu vực trồng rau màu của dân nên thường xuyên bị các loại côn trùng có hại như ruồi, muỗi, chuột… xâm nhập. Một số nhân viên chưa được tập huấn kiến thức về VSATTP và khám sức khỏe theo qui định. Một bộ phận người ăn còn thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh ATTP. Thực phẩm có nơi, có lúc còn chưa được đảm bảo vệ sinh, an toàn. Số liệu kiểm tra tại bếp ăn từ 01/04/2014 đến 01/04/2015 cho thấy test dư luợng thuốc bảo vệ thực vật (+) 10 lượt, acid vô cơ nằm trong dấm ăn (+)/ 1 lượt, hàn the trong giò chả (+)/13 lượt, tinh bột tồn dư trong đĩa, bát (+) /14 lượt, nước uống chưa sôi 03 lượt…

Về chính sách pháp luật, nhà nước tuy đã có nhiều văn bản qui định, huớng dẫn xong nhiều văn bản còn chồng chéo, chưa phân định rõ ràng trách nhiệm quản lý giữa bộ, ngành. Những thử nghiệm cho kết quả ngay (test nhanh) thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay, nhằm tránh ngộ độc xảy ra, còn nếu chờ kết quả chính thức (thuờng là dài ngày) thì thực phẩm đã được tiêu thụ hết; mức xử lý vi phạm VSATTP còn chưa phù hợp với qui mô, trình độ của cơ sở và còn nhiều bất cập khác cần được điều chỉnh, bổ sung cho hợp lý.

Đối với Bộ công an đến nay chưa có hệ thống tổ chức công tác đảm bảo VSATTP thống nhất từ Bộ cho đến địa phương, đơn vị. Chưa có mạng lưới thanh tra chuyên ngành về VSATTP, chưa có qui định về tổ chức bộ máy và cán bộ chuyên trách tại y tế cơ sở trong khi nội dung và khối luợng công tác VSATTP tại y tế cơ sở là rất lớn. Hiện nay y tế Học viện bố trí 01 Y tá điều dưỡng cùng một bộ đồ kiểm nghiệm làm được 06 test kiểm tra nhanh thực phẩm làm nhiệm vụ chuyên trách kiểm tra VSATTP tại 04 bếp ăn và kiểm tra vệ sinh môi trường, ngoại cảnh.

Công tác VSATTP của Học viện Cảnh sát nhân dân tuy còn nhiều khó khăn, bất cập nhưng nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc, cấp ủy các đơn vị, sự nỗ lực, nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ của cán bộ chuyên môn Y tế, Phòng Quản lý nhà ăn… đã triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo đảm chất lượng VSATTP trong khả năng cao nhất. Nhìn chung, Học viện đã triển khai thực hiện tốt những hoạt động cơ bản của công tác bảo đảm chất lượng VSATTP và đã đạt được những kết quả tốt. Điều này đã được Cục Y tế Bộ Công an, trung tâm y tế dự phòng Hà nội hàng năm đến Học viện kiểm tra công tác VSATTP ghi nhận và đánh giá cao. Thành tích nhiều năm qua chưa để xảy ra một vụ ngộ độc ăn uống nào tại các bếp ăn của Học viên là một thành tích rất đáng tự hào của Đội ngũ những người làm công tác phục vụ ăn uống và phòng chống dịch bệnh.

II. Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng VSATTP

Từ tình hình VSATTP như trên, để nâng cao chất lượng công tác VSATTP tại Học viện Cảnh sát nhân dân chúng tôi kiến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: Trên cơ sở luật ATTP, các quy định của bộ và thực tiễn Học viện, đề nghị Học viện sớm xây dựng và Ban hành quy định về VSATTP, quy định VSATTP. Thành lập Ban quản lý về VSATTP với chức năng, nhiệm vụ cụ thể để thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quy định, quy trình Học viện đã ban hành

Hai là: Bổ sung nhân lực làm công tác phục vụ ăn uống và cán bộ Y tế làm công tác kiểm tra giám sát VSATTP không những đủ về số lượng mà còn phải mạnh về chất lượng. Có chương trình đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ VSATTP cho nguồn nhân lực. Có chế độ chính sách đãi ngộ hợp lý cho người làm công tác VSATTP

Ba là: Tiếp tục đầu tư như mở rộng diện tích và cải tạo nâng cấp nhà ăn, cho đấu nối nguồn nước máy của thành phố phục vụ chế độ ăn uống, cơ khí hóa, phương tiện chế biến để nâng cao năng suất lao động, đồng bộ hóa dụng cụ phục vụ ăn uống, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tiến tới cấp chứng chỉ tiêu chuẩn hệ thống quản lý VSATTP - ISO 22000 cho các bếp. Thực hiện kiểm tra bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật VSATTP cho nhân viên nhà ăn 06 tháng/ lần. Có phương án hạn chế côn trùng truyền bệnh xâm nhập, khắc phục tình trạng úng ngập khu vực nhà ăn khi mưa bão.

Bốn là: Đẩy mạnh công tác truyền thông VSATTP, xây dựng nhà ăn văn hóa, giáo dục sức khỏe cho mọi cán bộ chiến sỹ và xem đây là một trong những giải pháp cơ bản, lâu dài. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm túc tất cả những trường hợp vi phạm VSATTP.

Năm là: Yêu cầu các tổ chức, cá nhân cung ứng thực phẩm cho nhà trường phải tuân thủ các qui định về SATTP trong sản xuất và lưu hành sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn chất lượng đã công bố hoặc đã được chứng nhận hợp chuẩn, hợp qui. Không sử dụng hóa chất, phụ gia ngoài danh sách cho phép trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Cam kết về trách nhiệm nếu thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, an toàn.

Sáu là: Đối với cán bộ, chiến sĩ phải biết tự bảo vệ mình khi chọn mua và bảo quản sử dụng thực phẩm. Tuyệt đối không ăn uống tại các điểm mất vệ sinh. Thận trọng với những món ăn sống. Phải nghiên cứu hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện các quy định về bảo đảm VSATTP. Ngoài ra, cần đấu tranh với các hành vi vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm và khai báo khi bị ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây truyền qua đường thực phẩm.

VSATTP có vai trò rất quan trọng trong công tác hậu cần đảm bảo nhiệm vụ giáo dục đào tạo của Học viện CSND. Bảo đảm VSATTP chính là đảm bảo cung ứng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, làm giảm gánh nặng bệnh tật, tăng cường khả năng học tập công tác và sẵn sàng chiến đấu của cán bộ chiến sỹ trong Học viện. Bảo đảm chất lượng VSATTP chỉ có thể thực hiện tốt nếu Học viện có những biện pháp phù hợp, đồng bộ và quyết tâm thực hiện từ Đảng ủy, Ban giám đốc tới các đơn vị chức năng và mọi cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, tất cả cán bộ chiến sỹ hãy cùng chung tay hành động để công tác vệ sinh an toàn thực phẩm của Học viện CSND ngày một tốt hơn, góp phần bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

Thượng tá, Bác sỹ CKI, NGUYỄN NGỌC TRÌU

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi