Thứ Bảy, 18/8/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoạt động điều tra hình sự trong Công an nhân dân và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng điều tra viên trong tình hình mới
Hội thảo khoa học “Đào tạo, bồi dưỡng đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp của Điều tra viên theo tiến trình cải cách tư pháp” tại Học viện CSND

Do vậy, thành công cũng như thất bại trong giải quyết vụ án hình sự đều ảnh hưởng rất lớn từ hoạt động điều tra hình sự của Cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra hình sự ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành và phát triển hệ thống các cơ quan điều tra ở Việt Nam qua một số giai đoạn lịch sử nhất định.

Hoạt động điều tra hình sự và công tác đào tạo, bồi dưỡng Điều tra viên (ĐTV) là vấn đề lớn, được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong bài viết này, tác giả mong muốn khái lược hoạt động điều tra hình sự ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐTV của Học viện Cảnh sát nhân dân (CSND) trong tình hình hiện nay.

1. Khái lược lịch sử hoạt động điều tra hình sự của Cơ quan điều tra trong Công an  nhân dân

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, do yêu cầu cần thiết phải có các cơ quan tư pháp để bảo vệ chế độ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 21/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 23/SL về hợp nhất Sở Cảnh sát và các Sở (Ty) Liêm phóng thành một cơ quan có tên là “Việt Nam Công an vụ”. Nội dung Sắc lệnh quy định rõ: Việt Nam Công an vụ tiến hành điều tra về những hành động trái phép liên quan đến sự an toàn của quốc gia, thi hành các biện pháp đề phòng những hành động có thể làm rối loạn trị an và mất trật tự trong nước của người Việt Nam hay người ngoại quốc; truy tầm can phạm để giúp Toà án trong sự trừng trị.

Ngày 20/7/1946, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 131/SL thành lập “Tổ chức Tư pháp Công an”. Theo quy định của Sắc lệnh này, Tổ chức Tư pháp Công an có nhiệm vụ: Truy tầm tất cả các vụ phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các Toà án xét xử trong phạm vi pháp luật ấn định. Có thể nói, đây là tổ chức Cơ quan điều tra đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141/SL, đổi Nha Công an Việt Nam thành “Thứ Bộ Công an”. Trong Sắc lệnh này thành lập Vụ Chấp pháp. Tại các Ty Công an địa phương có Ban Chấp pháp. Tại Công an Liên khu có Phòng Chấp pháp. Lực lượng làm công tác chấp pháp từ trung ương đến địa phương thực hiện nhiệm vụ cơ bản: Điều tra, lập hồ sơ, đề nghị truy tố các vụ phạm tội phản cách mạng và tội phạm hình sự khác; quản trị các trại giam. Có thể nói, Sắc lệnh số 141/SL đã quy định khá đầy đủ, chi tiết về hoạt động điều tra hình sự (từ điều tra thu thập chứng cứ đến lập hồ sơ, đề nghị truy tố tất cả các tội phạm) của Cơ quan điều tra chuyên trách trong lực lượng Công an nhân dân.

Kể từ năm 1959, lực lượng Chấp pháp thực hiện độc lập công tác điều tra công khai theo pháp luật tố tụng hình sự đối với những vụ án phản cách mạng và các vụ án hình sự khác.

Đến năm 1961, theo Nghị định số 132/CP của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công an, Vụ Chấp pháp đổi tên thành Cục Chấp pháp vẫn với chức năng chỉ đạo công tác bắt, giữ, khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín của những người phạm pháp và những người có liên quan; xét hỏi, lập hồ sơ đề nghị xử lý.

Ngày 12/6/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 250/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ. Nghị định đã quyết định bỏ tên Cục Chấp pháp ở Bộ, Phòng Chấp pháp ở địa phương và thành lập hai lực lượng điều tra mới: An ninh điều tra xét hỏi thuộc lực lượng An ninh nhân dân; Cảnh sát điều tra xét hỏi thuộc lực lượng CSND có tổ chức từ trung ương đến địa phương.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định Cơ quan điều tra là một trong các cơ quan tiến hành tố tụng.

Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 đã quy định Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân bao gồm: Cơ quan điều tra của lực lượng CSND và Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2006, năm 2009) quy định, trong Công an nhân dân có các Cơ quan điều tra khác nhau được tổ chức từ trung ương (Bộ Công an) đến Công an cấp tỉnh, cấp huyện và được bố trí theo đặc điểm của từng loại đối tượng điều tra.

Đến nay, hoạt động điều tra hình sự của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thể hiện rõ tầm quan trọng không thể thiếu trong quá trình tố tụng hình sự. Với hệ thống Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức ở cả 3 cấp (cấp Bộ Công an; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công an cấp huyện) và được bố trí điều tra chuyên sâu theo đặc điểm từng loại đối tượng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp đã tiếp nhận, giải quyết lượng tin báo tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố chiếm 96% của cả nước. Cơ quan An ninh điều tra (cấp Bộ Công an; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) đã tiếp nhận, giải quyết lượng tin báo tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố chiếm 1,1% của cả nước. Như vậy, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã tiếp nhận, giải quyết lượng tin báo tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố chiếm 97,1% của cả nước.

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, hoạt động điều tra hình sự của các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân là hoạt động không thể thiếu của quá trình tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trở thành một mắt xích quan trọng của hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng.

2. Những yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐTV trong tình hình hiện nay

Nhằm từng bước hoàn thiện, nâng cao năng lực của các cơ quan tư pháp và cán bộ ngành tư pháp trong tình hình mới, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người”.

Từ các yêu cầu nêu trên, để nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ điều tra, ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, cần tập trung làm tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, từng bước xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học hình sự đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.

Giảng viên và học viên là hai nhân tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo của một nhà trường, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy. Muốn xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng cần phải có chiến lược, thực hiện đồng bộ trong tất cả các khâu tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, điều kiện làm việc, chế độ, chính sách... Học viện CSND đã tìm nhiều hướng đi mới để từng bước tạo nên đội ngũ giảng viên chuyên ngành Cảnh sát điều tra (CSĐT) có chất lượng cao như: Liên kết đào tạo với các nước có trình độ phát triển cao (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc...) để gửi cán bộ, giảng viên đi học tập nâng cao trình độ với nhiều loại hình đa dạng; luân chuyển giảng viên nghiệp vụ về công tác tại các cơ quan CSĐT trong thời gian ít nhất là 2 năm; mời các giảng viên kiêm chức là những cán bộ thực tiễn có trình độ học vấn cao, là chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể của hoạt động điều tra hình sự để tham gia vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ điều tra, ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra tại Học viện CSND. Với những cách làm này, hiện nay, đội ngũ giảng viên của Học viện CSND nói chung, giảng viên giảng dạy chuyên ngành CSĐT nói riêng đã cơ bản đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Song cũng cần phải có những chế độ, chính sách phù hợp hơn nữa để bảo đảm về số lượng, chất lượng và được nâng cao trình độ thực sự về mọi mặt cho đội ngũ giảng viên.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hệ thống lý luận về Khoa học hình sự; nâng cao chất lượng biên soạn giáo trình tài liệu phục vụ cho dạy - học, nghiên cứu khoa học.

Được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an, với sự tận tâm, tận lực của các nhà khoa học trong và ngoài Học viện CSND, đến nay, hệ thống tài liệu lý luận về Khoa học hình sự ở Việt Nam được nghiên cứu, biên soạn cơ bản mang tính hệ thống, khoa học, cập nhật và đảm bảo tính hiện đại. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến tổng kết thực tiễn công tác điều tra hình sự, coi công tác tổng kết thực tiễn là con đường cơ bản, chủ yếu để xây dựng, hoàn thiện lý luận nghiệp vụ điều tra hình sự ở Việt Nam. Ngoài ra, cần tích cực mở rộng hơn nữa phạm vi, nội dung, hình thức hợp tác giữa nhà trường với các đơn vị nghiệp vụ, Cơ quan CSĐT các cấp để giúp giảng viên, học viên có nhiều điều kiện, cơ hội tiếp cận thực tiễn, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ CSĐT.

Thứ ba, hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, cập nhật các vấn đề mới về điều tra tội phạm; tích cực sử dụng phương pháp dạy - học tiên tiến vào quá trình đào tạo ĐTV và bồi dưỡng chức danh Thủ trưởng cơ quan điều tra.

Hiện nay, Học viện CSND đã xây dựng và triển khai chương trình đào tạo theo tín chỉ cho học viên các chuyên ngành nói chung, chuyên ngành CSĐT nói riêng. Song song với đào tạo theo tín chỉ, Học viện còn xây dựng và triển khai thực hiện các chuẩn đầu ra trên các phương diện chính trị, kiến thức lý luận về pháp luật, nghiệp vụ, các kỹ năng mềm (tin học, ngoại ngữ, võ thuật, bắn súng, lái xe...). Việc xây dựng và triển khai thực hiện chuẩn đầu ra đã tạo ra sự say mê học tập, nâng cao trình độ của tất cả học viên nói chung, học viên chuyên ngành CSĐT nói riêng. Chú trọng tăng thời lượng cho các khâu giải quyết bài tập tình huống nghiệp vụ, thực hành các văn bản tố tụng hình sự, thực hành nghiệp vụ, thực tập... Cần tăng cường các kiến thức về “quản lý công tác điều tra” theo quy định mới tại Điểm 6, Điều 14, Luật Công an nhân dân sửa đổi năm 2014. Bộ Công an cần quy định ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra phải được thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, đào tạo lại thông qua các hình thức như tập huấn chuyên đề, bồi dưỡng nghiệp vụ, cập nhật những kiến thức mới liên quan đến công tác điều tra hình sự..., coi đây là điều kiện bắt buộc khi bổ nhiệm chức danh ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra. Trong tương lai, cần mời các chuyên gia giỏi về điều tra hình sự trong khu vực và thế giới tham gia giảng dạy, huấn luyện nghiệp vụ nhằm đào tạo ra những ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra có tầm cỡ khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra, khám phá các loại tội phạm hình sự, góp phần bảo đảm an ninh trật tự của đất nước cũng như ổn định tình hình an ninh trong khu vực.

Thứ tư, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong đào tạo lực lượng CSĐT.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Công an, Học viện CSND đã tích cực, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo nói chung, đào tạo lực lượng CSĐT nói riêng. Với các hình thức liên kết đào tạo tương đối phong phú như liên kết đào tạo Thạc sĩ với trường Đại học Tổng hợp Maryland (Hoa Kỳ), trao đổi học viên với Đại học Cảnh sát Quốc gia Hàn Quốc, với Học viện Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan; cử giảng viên đi học nghiên cứu sinh ở Anh, Úc, Liên bang Nga... đã góp phần tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao trong nghiên cứu lý luận, thực tiễn công tác điều tra hình sự ở Việt Nam.

Thứ năm, thành lập trung tâm huấn luyện, bồi dưỡng ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra tại Học viện CSND.

Trong tiến trình xây dựng Học viện CSND thành cơ sở giáo dục trọng điểm của ngành Công an, tiến tới trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của Quốc gia trước năm 2020, Học viện cần nhanh chóng xây dựng, triển khai các đề án thành phần theo phê duyệt của lãnh đạo Bộ Công an, trong đó có thành lập một số đơn vị mới như: Viện Khoa học Cảnh sát; Trung tâm huấn luyện, bồi dưỡng ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra.

Trung tâm huấn luyện, bồi dưỡng ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra sẽ là nơi bồi dưỡng nâng cao về phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng lãnh đạo chỉ huy cho ĐTV, Thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong tương lai.

Có thể nói, nguồn nhân lực là nhân tố quyết định thành công của mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Vì vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực của lực lượng CAND nói chung, nguồn nhân lực cho các cơ quan điều tra nói riêng đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Bộ Công an qua các thời kỳ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác đào tạo nguồn nhân lực đó đã và đang đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công tác điều tra hình sự nói riêng, sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của lực lượng Công an nhân dân nói chung ./.

Trung tướng, GS,TS. Nguyễn Xuân Yêm

Giám đốc Học viện CSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi