Chủ Nhật, 22/9/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Thực trạng tổ chức, hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra và phương hướng hoàn thiện

1. Ngày 20/8/2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2004, sau đó được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2006, 2009 (sau đây gọi chung là Pháp lệnh năm 2004). Để triển khai thực hiện Pháp lệnh năm 2004, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành như: Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19) ngày 23/9/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong Công an nhân dân (Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19)), Thông tư số 04/2007/TT-BCA ngày 21/5/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19), Thông tư số 41/2009/TT-BCA-V19 ngày 02/7/2009 bổ sung Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19)…
Thực hiện các quy định của Pháp lệnh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức theo hướng tập trung, thống nhất, chuyên sâu, có sự gắn kết giữa hoạt động trinh sát với điều tra theo tố tụng hình sự nên đã phát hiện điều tra, xử lý có hiệu quả với từng loại tội phạm theo thẩm quyền của các cơ quan Cảnh sát điều tra và hoạt động có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước. Sau khi Pháp lệnh năm 2004 có hiệu lực thi hành, Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức ở cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương, cụ thể như sau:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện 
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện trực tiếp thực hiện công tác phòng ngừa tội phạm thuộc thẩm quyền đấu tranh của lực lượng Cảnh sát nhân dân trên địa bàn huyện; điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật Hình sự năm 1999, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ các tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân. 
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện do Trưởng Công an cấp huyện làm Thủ trưởng, có từ 1 đến 2 Phó Thủ trưởng là Phó trưởng Công an cấp huyện, gồm tối đa là 4 đội: đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội; đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ; đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và đội điều tra tổng hợp; tối thiểu là 1 đội. Trong mỗi đội sẽ có bộ phận gồm các điều tra viên và cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ điều tra theo tố tụng hình sự, còn lại là các cán bộ trinh sát thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trinh sát phục vụ yêu cầu phòng ngừa, phát hiện, thu thập thông tin, tài liệu trinh sát về tội phạm và người phạm tội. Căn cứ vào thực tế, Bộ Công an đã tổ chức 114/696 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện đủ 4 đội điều tra; 398/696 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có 3 đội điều tra; các cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện còn lại có từ 1 đến 2 đội điều tra. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có trên 25.000 cán bộ, chiến sĩ (chiếm 72,5% tổng số cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát điều tra), trong đó có gần 8.000 Điều tra viên (chiếm 30,67% tổng số cán bộ, chiến sĩ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, 69% số Điều tra viên của lực lượng Cảnh sát nhân dân) (1). 
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh trực tiếp thực hiện, tham mưu, hướng dẫn tổ chức hoạt động phòng ngừa tội phạm thuộc thẩm quyền đấu tranh của lực lượng Cảnh sát nhân dân và hướng dẫn, quản lý hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện trên địa bàn tỉnh; điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - gọi chung là Bộ luật Hình sự năm 1999), khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (trừ các tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân) và các vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.  
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh do 1 Phó giám đốc Công an cấp tỉnh phụ trách công tác phòng, chống tội phạm về trật tự, an toàn xã hội làm Thủ trưởng, có từ 4 Phó thủ trưởng trở lên, gồm 4 đơn vị trực thuộc là: Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy. Hiện nay, 63 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có gần 9.000 cán bộ, chiến sĩ (chiếm 24,4% số cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát điều tra); trong đó, có trên 3.000 điều tra viên (chiếm 27,55% số điều tra viên của lực lượng Cảnh sát điều tra). 
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an 
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an trực tiếp tiến hành công tác phòng ngừa nghiệp vụ với các tội phạm thuộc thẩm quyền đấu tranh của lực lượng Cảnh sát nhân dân theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an và có trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn hoạt động điều tra hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp dưới; điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. 
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an do Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm làm Thủ trưởng, các Phó tổng cục trưởng phụ trách đơn vị điều tra, Chánh văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cục trưởng và một số Phó cục trưởng các cục điều tra là Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra; gồm 5 đơn vị trực thuộc là: Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có trên 1.000 cán bộ, chiến sĩ (chiếm 3% số cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát điều tra), trong đó có gần 400 điều tra viên (chiếm 3,4% số điều tra viên của lực lượng Cảnh sát điều tra).
Từ năm 2005 đến tháng 6/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp đã tiếp nhận, giải quyết 670.953 tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (chiếm trên 98,2% số tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc trách nhiệm giải quyết của lực lượng Công an nhân dân, trên 96% số lượng tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cả nước). Từ kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm về kiến nghị khởi tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố, điều tra 603.360 vụ, 938.018 bị can (chiếm tỉ lệ 98,8% số vụ án với 98,3% số bị can thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân); trong đó: 
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thụ lý, điều tra trên 532.000 vụ với trên 845.000 bị can (chiếm trên 88% vụ án, 89,5% bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra), trung bình mỗi điều tra viên thụ lý, điều tra hơn 8,5 vụ/1 năm.  
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý 70.000 vụ án với 90.000 bị can (chiếm tỉ lệ khoảng 11% về số vụ án, 9,5% số bị can thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng Cảnh sát điều tra), trung bình mỗi điều tra viên thụ lý, điều tra hơn 3 vụ /1 năm. Đây là các vụ án hình sự về tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng nhưng phức tạp, nhiều bị can, do các băng, nhóm tội phạm thực hiện, các vụ án mà đối tượng phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn tại địa phương hoặc tội phạm có yếu tố nước ngoài. 
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an điều tra khoảng 500 vụ án, 2.500 bị can (chiếm tỉ lệ dưới 1% số vụ án, 1% số bị can thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng Cảnh sát điều tra). Đây là những vụ án về tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, nhiều bị can, liên quan tới các băng nhóm tội phạm nguy hiểm, hoạt động có tổ chức, bị can là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp lớn, gây bức xúc trong dư luận mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khó hoặc không thể điều tra được.
Kết quả xử lý: so với trước khi thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (giai đoạn 1990 - 2001), chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra đã được nâng cao; đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố 508.752 vụ với 878.934 bị can, đạt 84,3% số vụ án và 93,7% số bị can (giai đoạn 1990 - 2001 là 80% về số vụ và 77% số bị can), đặc biệt là đã điều tra, khám phá nhiều vụ án lớn, phức tạp, nghiêm trọng, triệt phá nhiều băng nhóm tội phạm nguy hiểm có tổ chức, xuyên quốc gia. Đình chỉ điều tra 2,2% số vụ và 1,9% số bị can (giai đoạn 1990 - 2001 là 4,5% số vụ và 6% số bị can); tạm đình chỉ điều tra 64.802 vụ với 29.329 bị can, chiếm tỉ lệ 10,7% số vụ, 3,1% số bị can (giai đoạn 1990 - 2001 là 6,97% số vụ và 6,18% số bị can). 
Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thực hiện tăng thẩm quyền điều tra theo các nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, giải quyết trên 88% số vụ án hình sự xảy ra trên toàn quốc đã tạo điều kiện để Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp trên tập trung điều tra những vụ án về các tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; đồng thời, thực hiện tốt hơn việc tổng kết, thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ và pháp luật đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp dưới. Thực tế cho thấy, việc tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra theo Pháp lệnh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp đã tạo điều kiện thuận lợi cho Viện Kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc điều tra; giúp cho Kiểm sát viên nắm được nội dung, diễn biến, các tình tiết có liên quan đến vụ án để thực hành quyền công tố tại phiên tòa, góp phần tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra. 
Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đã đạt được trong hoạt động điều tra hình sự theo Pháp lệnh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thực tế cũng cho thấy các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả điều tra, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu ngày càng cao của công tác điều tra hình sự của lực lượng Cảnh sát điều tra trong tình hình mới, chất lượng, tiến độ điều tra nhiều vụ án hình sự chưa bảo đảm, ở một số lĩnh vực xảy ra tội phạm nhưng tỷ lệ phát hiện, khởi tố, điều tra chưa cao; còn để xảy ra bức cung, dùng nhục hình; quan hệ phối hợp giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với các chủ thể khác trong hoạt động điều tra còn vướng mắc; có hiện tượng coi nhẹ công tác nghiệp vụ cơ bản, chạy theo vụ việc, dễ làm, khó bỏ, chưa quan tâm đúng mức điều tra những vụ án chưa rõ đối tượng; tỷ lệ điều tra khám phá các băng, nhóm tội phạm chưa cao; chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài liệu thu thập bằng biện pháp nghiệp vụ; còn để lộ, lọt thông tin, tài liệu trong quá trình tiến hành tố tụng... Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, trong đó về khách quan là do chịu tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tội phạm gia tăng và diễn biến phức tạp, mức độ, tính chất ngày càng nghiêm trọng là thách thức lớn đối với hoạt động điều tra; về chủ quan, việc tổ chức và phân định quyền hạn điều tra của các đơn vị thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa thực sự phù hợp, cơ chế quản lý, bố trí sử dụng cán bộ và các điều kiện bảo đảm khác cho hoạt động điều tra tuy được chú ý tăng cường nhưng vẫn chưa thật đồng bộ… 

Trung tướng Nguyễn Ngọc Anh truyền đạt nội dung Thông tư 28 tại Hội nghị tập huấn quy định về công tác điều tra hình sự trong CAND


2. Để sắp xếp, củng cố lại các đơn vị thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra, khắc phục thiếu sót và đáp ứng yêu cầu thực tế trước mắt công tác điều tra hình sự của lực lượng này, ngày 07/7/2014 Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 28/2014/TT-BCA quy định về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân (dưới đây gọi chung là Thông tư số 28). Thông tư số 28 quy định các cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân có trách nhiệm tổ chức trực ban hình sự và giao nhiệm vụ này cho hệ Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra thực hiện; việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các đơn vị thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra phải được xây dựng kế hoạch, báo cáo Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Theo thống kê, trung bình mỗi năm Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp trong Công an nhân dân đã tiến hành giải quyết khoảng hơn 80.000 nguồn tin có liên quan đến tội phạm, trong đó nguồn tin do công dân, cơ quan, tổ chức cung cấp chiếm khoảng 71% (công dân tố giác chiếm khoảng 58% tin về tội phạm, cơ quan, tổ chức báo khoảng 9% tin về tội phạm, nguồn tin từ các phương tiện thông tin đại chúng chiếm khoảng 1% tin, nguồn tin từ các đối tượng tự thú cung cấp chiếm khoảng 3% tin), nguồn tin do cơ quan Cảnh sát trực tiếp phát hiện chỉ chiếm khoảng 29%. Vì vậy, ở các Cơ quan Cảnh sát điều tra cần phải có lực lượng trực ban hình sự để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức báo tin. Bên cạnh đó, thực tiễn hoạt động điều tra hình sự cho thấy, đã xuất hiện hiện tượng một số cá nhân, đơn vị lợi dụng việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vào mục đích khác cần được chấm dứt. 
Để khắc phục hiện tượng chạy theo vụ việc, coi nhẹ công tác nghiệp vụ cơ bản của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Thông tư số 28 quy định theo hướng phân định lại quyền hạn điều tra của các đơn vị thuộc Cơ quan điều tra, trong đó, phân công hệ Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành điều tra các vụ án đã rõ đối tượng do tự phát hiện và do các cơ quan đơn vị khác chuyển đến (trừ các tội phạm về ma túy và trọng án), hệ Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ điều tra các vụ án chưa rõ đối tượng và các vụ án đã rõ đối tượng do tự phát hiện, hệ Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng giữ nguyên, cụ thể như sau:
- Hệ Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra:
Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (trừ các tội phạm về ma túy) nhưng Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an xét thấy cần trực tiếp điều tra; các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội quy định tại Chương XVII, các Điều 224, 225, 226, 226a, 226b, 244 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an do các cơ quan, đơn vị khác chuyển đến.
Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh tiến hành điều tra các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh do tự phát hiện và do các cơ quan, đơn vị khác chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (trừ các tội phạm về ma túy và các vụ trọng án); các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện (đội Điều tra tổng hợp) nhưng Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Đội điều tra tổng hợp tiến hành điều tra các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện (trừ các tội phạm về ma túy) do tự phát hiện và do các cơ quan, đơn vị khác chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.
- Hệ Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội:
Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương XII, XIII, XIV, XV, XIX, XX, XXII của Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ) do trực tiếp phát hiện thông qua đấu tranh chuyên án hoặc trong các chuyên án của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh chuyển lên do gặp khó khăn trong việc phá án.
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tiến hành điều tra các vụ trọng án; các vụ án hình sự chưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại các chương XII, XIII, XIV, XV, XIX, XX, XXII của Bộ luật Hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ); các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện (đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội) nhưng Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tiến hành điều tra các vụ án hình sự chưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại các chương XII, XIII, XIV, XV, XIX, XX, XXII của Bộ luật Hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an cấp huyện).
- Hệ Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ:
Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XVI, Mục B Chương XXI, các Điều 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145 Chương XIV (trong trường hợp đối tượng lợi dụng tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ký kết hợp đồng kinh tế để phạm tội) và Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an do trực tiếp phát hiện thông qua đấu tranh chuyên án hoặc trong các chuyên án của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an cấp tỉnh chuyển lên do gặp khó khăn trong việc phá án.
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ tiến hành điều tra các vụ án hình sự chưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại Chương XVI, Chương XXI, các Điều 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145 Chương XIV (trong trường hợp đối tượng phạm tội lợi dụng tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để phạm tội) của Bộ luật Hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh; các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện (đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ) nhưng Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra. 
Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ tiến hành điều tra các vụ án hình sự chưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại Chương XVI, Chương XXI, các Điều 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145 Chương XIV (trong trường hợp đối tượng phạm tội lợi dụng tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để phạm tội) của Bộ luật Hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện.


3. Pháp lệnh năm 2004 do được ban hành từ lâu nên chưa có điều kiện thể chế hóa, cụ thể hóa đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các quy định của Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc, tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát quyền lực của các cơ quan tư pháp, các quy định về ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân... trong hoạt động điều tra hình sự nói chung, của lực lượng Cảnh sát điều tra nói riêng. Theo đó, cần phải xây dựng Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự để tạo cơ sở pháp lý toàn diện, đồng bộ về tổ chức, hoạt động điều tra hình sự trong tình hình mới. Đây là đạo luật lớn cần được nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn điều tra hình sự để quy định về Cơ quan điều tra nói chung, Cơ quan Cảnh sát điều tra nói riêng bảo đảm yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra hình sự. Việc xây dựng dự án Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
- Quán triệt, thể chế hóa chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra hình sự, bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
- Phù hợp với Hiến pháp, sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự.
- Dựa trên cơ sở tổng kết thi hành Pháp lệnh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thực hiện; kế thừa các quy định còn phù hợp đang phát huy tác dụng tốt, khắc phục những tồn tại, bất cập, hạn chế của pháp luật về điều tra hình sự; đáp ứng yêu cầu của công tác điều tra hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong tình hình hiện nay và những năm tiếp theo. Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn tổ chức điều tra hình sự của một số nước phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
- Bảo đảm trong hoạt động điều tra hình sự, sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; phân công, phân cấp rành mạch và được kiểm soát chặt chẽ; điều tra nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Trên cơ sở đó, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự cần bảo đảm các nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, về chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra cần được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh năm 2004, bảo đảm nguyên tắc rành mạch, tránh chồng chéo, trùng giẫm và được kiểm soát chặt chẽ trong tổ chức, hoạt động điều tra hình sự. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an cần bổ sung Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bổ sung Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu; tuy nhiên, không nên quy định đủ 6 cục trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, 5 phòng trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, 4 đội trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, mà giao Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ tình hình tội phạm và yêu cầu thực tiễn quyết định thành lập từ 1 đến 6 cục trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, thành lập từ 1 đến 5 phòng trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, thành lập từ 1 đến 4 đội trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện và quyết định giải thể, sáp nhập, thu gọn đầu mối các cục, phòng và đội trong các Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Thứ hai, sửa đổi quy định về nhiệm kỳ của Điều tra viên theo hướng kéo dài để tránh việc bổ nhiệm lại mang tính hình thức nhưng vẫn bảo đảm việc kiểm soát của cơ quan quản lý về chất lượng Điều tra viên. Đồng thời, bổ sung quy định kéo dài hạn tuổi phục vụ đối với Điều tra viên có đủ phẩm chất, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có sức khỏe tốt và tự nguyện công tác.
Thứ ba, bổ sung chức danh Trợ lý điều tra ở Cơ quan điều tra, có nhiệm vụ giúp Điều tra viên thực hiện một số hoạt động điều tra nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động điều tra hình sự.
Thứ tư, quy định Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an, trạm Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và tiến hành kiểm tra, xác minh, phân loại trong một số trường hợp cụ thể (nhưng không có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự), sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tạo cơ sở pháp lý cho các lực lượng này thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
Thứ năm, bổ sung quy định nhằm bảo đảm sự phối hợp, kiểm soát giữa Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát trong hoạt động điều tra hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, nhất là trong hoạt động điều tra hình sự, quyền con người dễ bị xâm phạm, tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một con người.

1. Số liệu tính đến tháng 6 năm 2013, đến nay đã có 701 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.

 

Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Ngọc Anh
Cục trưởng Cục Pháp chế - BCA

(Trích Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Đào tạo, bồi dưỡng đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp của Điều tra viên theo tiến trình cải cách tư pháp”)

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác