Chủ Nhật, 22/4/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Pháp lệnh Cảnh sát môi trường - cơ sở pháp lý đồng bộ để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường trong tình hình mới
Trước yêu cầu cấp bách của tình hình trên, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để chủ động đối phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này như: Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 21/10/2011 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các vấn đề an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật tài nguyên nước năm 2012, Luật bảo vệ rừng năm 2010... và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật này, đặc biệt là Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08/7/2010 quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường, tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan chức năng triển khai công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm, trong đó lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (Cảnh sát môi trường) có vai trò rất quan trọng.
Thực hiện các văn bản trên, từ năm 2006 đến năm 2014, lực lượng Cảnh sát môi trường đã phát hiện, điều tra, xử lý trên 43.300 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; xử phạt hành chính thu về ngân sách nhà nước trên 413 tỷ đồng, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 1.023 vụ với 1.865 đối tượng, trong đó có nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng, gây  bức xúc trong dư luận, được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, do chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao quy định toàn diện về tổ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và các điều kiện bảo đảm hoạt động của lực lượng Cảnh sát môi trường cũng như trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường, an toàn thực phẩm… nên vẫn phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị và lực lượng Cảnh sát môi trường trong công tác này.

Cảnh sát môi trường làm nhiệm vụ. Ảnh minh họa.

Để khắc phục thực trạng trên, ngày 23/12/2014, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XIII đã ban hành Pháp lệnh Cảnh sát môi trường. Pháp lệnh gồm 5 chương, 19 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, bảo đảm hoạt động và chế độ, chính sách đối với Cảnh sát môi trường; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Để triển khai thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh Cảnh sát môi trường, cần nhận thức đúng, thống nhất những nội dung của Pháp lệnh; cụ thể là:
- Chương I gồm 6 điều quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; vị trí, chức năng của Cảnh sát môi trường; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Cảnh sát môi trường; xây dựng Cảnh sát môi trường; các hành vi bị nghiêm cấm. Trong đó, pháp luật tiếp tục ghi nhận vị trí, chức năng của Cảnh sát môi trường ở văn bản có hiệu lực pháp luật cao hơn, đó là lực lượng chuyên trách thuộc Công an nhân dân thực hiện chức năng phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm hành chính về môi trường; chủ động, phối hợp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật về tài nguyên và an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường.
Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, lực lượng Cảnh sát môi trường đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ủy Công an Trung ương và sự chỉ huy, quản lý của Bộ trưởng Bộ Công an; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tôn trọng và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an sinh xã hội; chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh tội phạm, vi phạm pháp luật theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ; phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức có liên quan trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ; dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
 Nhà nước xây dựng Cảnh sát môi trường cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia xây dựng, phối hợp, giúp đỡ Cảnh sát môi trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Cảnh sát môi trường được ưu tiên tuyển chọn, đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cảnh sát môi trường phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; không được bỏ lọt tội phạm và vi phạm hành chính về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; lợi dụng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát môi trường để gây phiền hà, sách nhiễu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được chống lại hoặc cản trở Cảnh sát môi trường thi hành công vụ; giả danh Cảnh sát môi trường; mua chuộc, hối lộ hoặc có hành vi xúi giục, lôi kéo, ép buộc Cảnh sát môi trường thực hiện hành vi trái với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát môi trường; trả thù, đe dọa trả thù, cản trở người làm chứng, người tố giác, người tố cáo hoặc người thân thích của họ trong việc tố giác, tố cáo, khai báo và xử lý tội phạm, vi phạm hành chính về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cảnh sát môi trường được quy định tại Chương II của Pháp lệnh. Theo đó, trong phạm vi chức năng, Cảnh sát môi trường có nhiệm vụ, quyền hạn: Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình để tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật; áp dụng các biện pháp công tác công an để tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật; tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật; tiến hành điều tra các tội phạm về môi trường và tài nguyên, an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường theo quy định của pháp luật; tiến hành các hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; kiểm tra phương tiện, đồ vật, địa điểm khi trực tiếp phát hiện có dấu hiệu tội phạm, vi phạm hành chính hoặc khi có tố giác, tin báo về tội phạm, vi phạm hành chính theo quy định của luật. Việc kiểm tra phải có quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan Cảnh sát môi trường thuộc Bộ Công an, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quyết định bằng văn bản của Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương; xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; trong trường hợp cần thiết, cấp bách được quyền huy động người, phương tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của luật; sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định của luật; sử dụng thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; thu giữ mẫu vật, tài liệu, vật chứng liên quan đến tội phạm, vi phạm hành chính để kiểm định hoặc phối hợp với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiểm định, giám định; được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan đến tội phạm, vi phạm hành chính về môi trường và tài nguyên, an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường theo quy định của luật; phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm theo quy định của Chính phủ; thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trên, Cảnh sát môi trường được tổ chức ở 3 cấp, cụ thể là: Đơn vị cấp Cục thuộc Bộ Công an; phòng thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; đội thuộc Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương. 
- Về bảo đảm hoạt động và chế độ, chính sách đối với Cảnh sát môi trường, Chương III của Pháp lệnh quy định lực lượng Cảnh sát môi trường được trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an. Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát môi trường được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Luật Công an nhân dân; được hưởng chế độ về độc hại, trang bị phương tiện bảo hộ phòng, chống độc hại theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Cảnh sát môi trường trong thực hiện nhiệm vụ có thành tích thì được khen thưởng; bị tổn hại về danh dự thì được khôi phục; bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; người bị thương tích, tổn hại về sức khỏe, tính mạng thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Cảnh sát môi trường được bảo vệ và giữ bí mật theo quy định của pháp luật. Kinh phí hoạt động của Cảnh sát môi trường do ngân sách nhà nước bảo đảm. 
- Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với Cảnh sát môi trường, Chương IV Pháp lệnh quy định cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành, cụ thể là: 
+ Bộ Công an có trách nhiệm: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về Cảnh sát môi trường; chỉ đạo và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về Cảnh sát môi trường; quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của Cảnh sát môi trường; tổ chức đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát môi trường; ban hành danh mục các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của Cảnh sát môi trường; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến Cảnh sát môi trường; chỉ đạo thực hiện hợp tác quốc tế về trao đổi thông tin, đào tạo, huấn luyện và trang bị cho Cảnh sát môi trường.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền phối hợp, hỗ trợ Cảnh sát môi trường trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; hỗ trợ triển khai thực hiện các dự án, đề tài nghiên cứu, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hợp tác quốc tế, tư vấn cho Cảnh sát môi trường.
+ Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo cơ quan, đơn vị thuộc quyền phối hợp với Cảnh sát môi trường trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chính quyền địa phương các cấp bảo đảm và tạo điều kiện để Cảnh sát môi trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tuyên truyền, vận động Nhân dân, phối hợp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; giám sát, giúp đỡ Cảnh sát môi trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. 
Pháp lệnh Cảnh sát môi trường sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/6/2015. Đây là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng và có hiệu lực pháp lý cao để lực lượng Cảnh sát môi trường phát huy hơn nữa sức mạnh trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường, vi phạm pháp luật về tài nguyên và an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên, tài nguyên, khoáng sản của nước ta và quan trọng hơn cả là sức khỏe, chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Để triển khai có hiệu quả Pháp lệnh, trước hết cần tổ chức tập huấn, tuyên truyền, phổ biến nội dung của Pháp lệnh đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát môi trường và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan; sớm ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Pháp lệnh trong phạm vi toàn quốc và trong Công an nhân dân. Tổng cục Cảnh sát khẩn trương phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan rà soát, đề xuất danh mục và xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết Pháp lệnh Cảnh sát môi trường để các văn bản này có hiệu lực cùng với thời điểm Pháp lệnh có hiệu lực thi hành.

 

Nguyễn Viết Khánh
Trung úy, ThS, Cán bộ C49, BCA

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi