Chủ Nhật, 22/4/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia bảo vệ môi trường trong tình hình mới

Đảng và Nhà nước cũng đã kịp thời chỉ đạo các cơ quan chức năng và các ban ngành hữu quan chủ động tiến hành các biện pháp cần thiết để BVMT. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát và lên danh sách toàn bộ các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng trên toàn quốc để có kế hoạch xử lý từng bước, nhằm đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, vừa đảm bảo an sinh xã hội và BVMT. Nhiều văn bản pháp luật về BVMT (BVMT) đã được ban hành như Luật BVMT, Luật đa dạng sinh học, Luật khoáng sản... Đặc biệt, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về công tác BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 triển khai Nghị quyết số 41 của Bộ chính trị, Chỉ thị số 24/2009/CT-TTg ngày 28/8/2009 về tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Ngày 8/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2010/NĐ-CP, quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường; năm 2014 Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Cảnh sát môi trường tạo cơ sở pháp lý cho công tác PCTP về môi trường... Các lực lượng chức năng đã chủ động triển khai lực lượng phát hiện, điều tra, xử lý nhiều vi phạm pháp luật về môi trường trên địa bàn toàn quốc. Tuy nhiên, thực trạng vi phạm pháp luật về BVMT ở nước ta trong thời gian qua vẫn diễn ra hết sức nghiêm trọng.
Vi phạm pháp luật về BVMT xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội, như xuất nhập khẩu, quản lý khai thác tài nguyên, trong lĩnh vực y tế, trong đầu tư sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các vi phạm trong lĩnh vực đa dạng sinh học, vệ sinh an toàn thực phẩm, sản xuất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất... trên phạm vi toàn quốc. Từ năm 2007 đến năm 2013, lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường toàn quốc đã phát hiện 43.122 vụ vi phạm với 28.989 đối tượng (cả hành chính và hình sự); khởi tố 956 vụ với 1.423 đối tượng; xử lý hành chính 22.865 cá nhân và 8.036 tổ chức, xử phạt và truy thu phí BVMT 302.912 tỷ đồng..  Riêng năm 2014, toàn lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường phát hiện 11.728 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, giảm 13,39% so với năm 2013, tuy nhiên tính chất vẫn cực kỳ nghiêm trọng .
Thực trạng diễn biến phức tạp của vi phạm pháp luật về môi trường ở nước ta hiện nay do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Song một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tội phạm là hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng CSMT và các ban ngành hữu quan chưa cao. Nhân dân chưa ý thức được trách nhiệm của mình đối với công tác BVMT; nhiều chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về BVMT chưa đi vào cuộc sống, chưa được tuyên truyền, giáo dục, phổ biến rộng rãi trong nhân dân; không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế coi công tác BVMT là việc của cơ quan chuyên trách, vì vậy thờ ơ, đứng ngoài cuộc với vấn đề BVMT, thậm trí còn trực tiếp, cố tình vi phạm. Để công tác BVMT thực sự có kết quả cao, hướng tới phát triển nền kinh tế “xanh”, cùng với việc tiến hành các giải pháp khác về nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý nghiêm khắc các vi phạm pháp luật về môi trường, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin trao đổi một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng tham gia BVMT.
Một số nét về thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng BVMT: Qua nghiên cứu cho thấy công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân và các cơ quan, tổ chức về BVMT trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Về phía lực lượng CSMT thì lực lượng còn mỏng, trình độ còn những hạn chế nhất định, cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động tuyên truyền về phòng, chống vi phạm pháp luật về môi trường còn rất hạn chế. Hình thức, phương thức, nội dung tuyên truyền, xác định tính chất của đối tượng tuyên truyền, kế hoạch tổ chức công tác tuyên truyền của lực lượng CSMT mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, chưa phong phú và hiệu quả chưa cao.
Về phía đối tượng được tuyên truyền, có thể nói với hàng chục triệu người dân và hàng nghìn cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị kinh tế đóng ở các địa bàn khác nhau trên phạm vi toàn quốc, cùng với nhiều đối tượng tạm trú, tham quan, du lịch, lữ hành, khách quốc tế... khác nhau thì việc xác định đối tượng, phương pháp, nội dung tuyên truyền, vân động về BVMT với từng loại đối tượng là hết sức khó khăn. Hiện nay chủ yếu lực lượng CSMT và các cơ quan hữu quan quan tâm đến các đối tượng chính như các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng trên địa bàn (ổn định), các khu công nghiệp, khu chế xuất, các làng nghề, khu dân cư. Tuy nhiên, ý thức pháp luật nói chung, ý thức pháp luật về BVMT nói riêng của người dân cũng không đồng đều, nhìn chung là còn thấp. Nhiều người dân, thậm chí cả cơ quan, đơn vị kinh tế đã đặt lợi ích kinh tế của cá nhân, đơn vị, cơ quan mình lên hàng đầu, vì vậy đã công khai hoặc lén lút che giấu hành vi vi phạm, ví dụ che giấu hành vi gây ô nhiễm môi trường để tiết kiệm, hạn chế chi phí đầu tư vào xử lý rác thải, nước thải, khí thải... gây ô nhiễm môi trường. Với những đối tượng này, công tác tuyên truyền giáo dục về BVMT có vai trò đặc biệt quan trọng, cần kết hợp tuyên truyền giáo dục với phát hiện và trừng trị nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT do họ gây ra, có như vậy mới đảm bảo pháp chế, đảm bảo hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục.
Công tác tuyên truyền, giáo dục BVMT cũng còn gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện địa lý, tự nhiên, dân cư, chính sách ở nước ta có nhiều thay đổi cùng với những thuận lợi về việc phát triển kinh tế, xã hội thì cũng kéo theo những khó khăn về công tác BVMT, đặc biệt là đối với công tác tuyên truyền, giáo dục về BVMT. Nhiều địa bàn dân cư sống xa trung tâm đời sống nhân dân còn khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu, nhiều thói quen, tập quán sinh hoạt, thói quen canh tác ảnh hưởng lớn đến môi trường như chăn thả gia súc, phá rừng làm rẫy, đốt rừng, khai thác rừng bừa bãi, săn bắn động vật hoang dã, quý hiếm, khai thác khoáng sản... nên công tác tuyên truyền, giáo dục về BVMT với những đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn. Người dân ở thưa thớt không tập trung, trình độ dân trí thấp, giao thông đi lại gặp khó khăn... đặc biệt với một số dân tộc vùng sâu thì còn phát sinh vấn đề bất đồng ngôn ngữ. Làm thế nào để việc tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân về BVMT có hiệu quả với những đối tượng này là một thách thức lớn với lực lượng CSMT. Trong thời gian qua, lực lượng CSMT phối hợp với các Bộ ngành có liên quan đã quan tâm và tìm ra những phương án tối ưu để đảm bảo công tác tuyên truyền đến những cộng đồng dân cư này được hiệu quả, như phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng Công an phụ trách xã về an ninh trật tự, phối hợp với già làng, trưởng bản, hình thành đường dây nóng bảo vệ động vật hoang dã... tuy nhiên, kết quả đạt được còn khiêm tốn.

Lực lượng thanh niên xung phong tham gia ngày xanh bảo vệ môi trường

 

Giải pháp: Có thể nói, để giành thắng lợi trên mặt trận phòng, chống tội phạm, BVMT lực lượng CSMT phải huy động được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân và cả hệ thống chính trị tích cực tham gia. Tại Nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị đã khẳng định phải “đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân về BVMT”. Đây là biện pháp được đánh giá là có hiệu quả lâu dài, quan trọng hàng đầu trong công tác BVMT hiện nay. Chúng ta cần xác định vấn đề BVMT hiện nay không còn là trách nhiệm riêng của một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào mà nó trở thành nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Không thể ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng gây ô nhiễm môi trường, BVMT có hiệu quả nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và quần chúng nhân dân. Muốn nhân dân trên địa bàn cả nước tham gia phòng ngừa tội phạm môi trường, BVMT thì trước hết cần nâng cao ý thức của công dân đối với vấn đề BVMT sống, làm thay đổi nhận thức của nhân dân về vai trò của môi trường với sự sống, với sức khỏe của con người, với tự nhiên, sự đa dạng sinh thái,... từ đó đề cao trách nhiệm của công dân trong BVMT.
Một là, đảm bảo mục tiêu chung. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mọi công dân, trong đó, đặc biệt chú trọng nội dung tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân về tác hại của các hành vi phạm tội và các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề BVMT nhằm góp phần nâng cao nhận thức và xây dựng ý thức tự giác cho mỗi chủ thể xã hội tham gia và chấp hành đúng các quy định về BVMT. Từ việc giáo dục nâng cao nhận thức của nhân dân trong BVMT, nâng cao cảnh giác trong quần chúng nhân dân trong việc phòng ngừa tội phạm, phát hiện, tố giác tội phạm, hỗ trợ các cơ quan chức năng trong điều tra, xử lý tội phạm, giáo dục, cải tạo người vi phạm.
Hai là, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, đối tượng tuyên truyền. Công tác tuyên truyền, giáo dục về BVMT, phòng chống tội phạm môi trường cần có kế hoạch cụ thể, cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, hình thức, nội dung, đối tượng tuyên truyền, và các điều kiện khác như lực lượng, cơ sở vật chất... cụ thể là:
Về mục đích: tuỳ từng lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà mục đích của công tác tuyên truyền, giáo dục có thể khác nhau, nhưng mục đích chung là nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò của môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội; trách nhiệm của mỗi người dân đối với công tác BVMT; giúp nhân dân nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác BVMT, phòng chống tội phạm môi trường; nắm được phương thức thủ đoạn của tội phạm, để phát hiện, giúp đỡ cơ quan bảo vệ pháp luật trong phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý...; huy động toàn dân tham gia BVMT, phòng chống tội phạm.
Về yêu cầu: công tác truyên truyền, giáo dục về BVMT là phải đúng đường lối chích sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành; công tác tuyên truyền phải đúng đối tượng, có nội dung, hình thức phù hợp, dễ hiểu;
Về nội dung: Lực lượng CSMT tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đề ra nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, đẩy mạnh phong trào toàn dân phòng, chống tội phạm, BVMT.
Thông qua hình thức vận động, tuyên truyên giáo dục, để xây dựng mô hình tiên tiến, điển hình phù hợp với từng địa bàn, đồng thời xây dựng lực lượng nòng cốt đế phát huy tính tích cực, tự giác của nhân dân vào công tác phòng chống tội phạm, BVMT. Sử dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân để phòng chống tội phạm, BVMT.
Nội dung chính cần tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng là đường lối chính sách của Đảng về BVMT như: Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ chính trị về BVMT; Nghị quyết số 41-NQ/TW năm 2004 về công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước...
Các văn bản pháp luật như: Luật BVMT năm 2014; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật hình sự (Chương các tội phạm về môi trường); Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật khoáng sản; Luật Đa dạng sinh học; Luật xử lý vi phạm hành chính...
Các văn bản dưới luật như các Pháp lẹnh Cảnh sát môi trường năm 2014; Nghị định xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 179/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường...
Cùng với việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về BVMT, nội dung tuyên truyền, giáo dục cần giúp nhân dân nâng cao cảnh giác để phòng ngừa, phát hiện tội phạm. Để đạt được nội dung này, cần sơ kết, tổng kết thường xuyên công tác phòng chống tội phạm môi trường để nắm vững phương thức, thủ đoạn hoạt động tội phạm để tuyên truyền cho quần chúng nhân dân. Tăng cường và phát huy truyền thống yêu thiên nhiên, nếp sống gần gũi, gắn bó với môi trường.
Về hình thức và phương pháp: tuỳ thuộc vào đối tượng tuyên truyền, nội dung cần tuyên truyền mà có hình thức tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng cho phù hợp. Thông thường, các hình thức tuyên truyền chủ yếu được áp dụng là thông qua hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, như loa đài truyền thanh của xã, phường, khu phố, dán áp phích, pa nô, khẩu hiệu về BVMT ở các khu công cộng... Lực lượng CSMT phối hợp với chính quyền một số xã, phường để cam kết công tác giữ gìn vệ sinh đường phố, thành lập các tổ tự quản, đường phố tự quản, khuyến khích quần chúng nhân dân tố giác những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT với các cơ quan chức năng.
Về lâu dài cần đa dạng hoá các phương pháp tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật, các thông tin về môi trường và phát triển bền vững cho mọi người, đưa việc giáo dục về môi trường, BVMT vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân và tiến tới hình thành môn học chính khoá đối với các cấp học phổ thông. Đưa nội dung BVMT vào giảng dạy trong hệ thống các trường chuyên nghiệp, đại học, các trường dạy nghề...
Về đối tượng: Muốn công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng về BVMT có hiệu quả cần xác định rõ tính chất của đối tượng cần tuyên truyền, vận động về trình độ văn hoá, đặc trưng nghề nghiệp, truyền thống, phong tục tập quán, ngôn ngữ...
Trong số các đối tượng tuyên truyền, vận động lực lượng CSMT đặc biệt quan tâm đến đối tượng là các cơ quan, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp và làng nghề.... Đây là những đối tượng có khả năng vi phạm pháp luật về BVMT, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất. Để làm tốt công tác tuyên truyền đối với các đối tượng này, lực lượng chức năng cần phối hợp với lãnh đạo một số cơ quan, doanh nghiệp về chủ động tuyên truyền vận động cán bộ, công nhân viên nâng cao ý thức BVMT, ý thức pháp luật về môi trường, phát hiện, tố giác tội phạm.
Ba là, thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp trong tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng BVMT. Để đảm bảo công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia BVMT giành thắng lợi, cần thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp giữa CSMT với cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường, với các cơ quan hữu quan như cơ quan văn hoá thông tin, truyền thông; Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là phối hợp với chính quyền các cấp. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện mối quan hệ phối hợp là các quy định trong Luật BVMT năm 2005. Tuy nhiên, cần đảm bảo các nội dung, yêu cầu, phương pháp... đã nêu ở trên. Đồng thời cần xây dựng quy chế phối hợp cụ thể với các ngành, các cấp. Quy chế phải đảm bảo xác định rõ mục đích, yêu cầu, lực lượng tham gia, tính chất, mức độ tham gia, hình thức phương pháp tham gia, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời lưu ý, cần có chế tài xử lý chủ thể vi phạm quy chế để đảm bảo việc thực hiện được nghiêm túc.
Cùng với các giải pháp nêu trên, để công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tham gia BVMT có hiệu quả các cơ quan chức năng cần có các hình thức khen thưởng kịp thời, xứng đáng với các cá nhân tổ chức có thành tích xuất sắc về BVMT, xây dựng các nhân vật điển hình tiên tiến, xây dựng các mô hình đi đầu về công tác BVMT từ đó nhân rộng sang các địa phương, các cơ quan, ban ngành khác. Bên cạnh đó đi đôi với việc khen thưởng khuyến khích các cá nhân, tổ chức, địa phương có thành tích là công tác phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm khắc các chủ thể vi phạm. Tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà xử lý hình sự, hành chính hay xử lý dân sự.

 

Nguyễn Quang Hội
ThS, Phó Trưởng phòng PC45, Công an TP Hà Nội

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi