Thứ Ba, 23/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Phân biệt yếu tố nạn nhân của tội phạm với yếu tố tình huống trong một vụ phạm tội

Đối với yếu tố nạn nhân của tội phạm, về mặt thời gian xuất hiện trong hai trường hợp: Trong một khoảng thời gian dài, rất dài, được lặp đi lặp lại (ví dụ, hành vi quan hệ bất chính với vợ hoặc chồng của chủ thể tội phạm, hành vi làm nhục người khác, lối sống lệch chuẩn xã hội, bị tật nguyền,...); hoặc yếu tố nạn nhân xuất hiện trong thời gian ngắn, rất ngắn nhưng vẫn có khoảng thời gian nhất định đủ để tác động lên ý thức chủ thể để chủ thể nảy sinh ý định phạm tội đến khi quyết định việc thực hiện hành vi phạm tội (chẳng hạn như do va chạm giao thông, nạn nhân mất bình tĩnh đã có hành vi hành xử thô lỗ, hay bạo lực với chủ thể tội phạm, hay sự cẩu thả với tính mạng, tài sản của chính nạn nhân,...). Các yếu tố xuất hiện trong các trường hợp này thường do lỗi của nạn nhân (có thể lỗi cố ý hoặc vô ý).
Tình huống trong một vụ phạm tội là toàn bộ các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới tính chất của một vụ phạm tội. Tình huống chỉ tồn tại một cách khách quan tại thời điểm xảy ra vụ phạm tội, tình huống cụ thể tại thời điểm đó còn gọi là tình huống tiềm phạm, tình huống khách quan này không thuộc về lỗi của nạn nhân của tội phạm. Tình huống tiềm phạm có cấu trúc của nó, chỉ khi nào các đặc điểm trong cấu trúc của tình huống hội đủ các yếu tố cần thiết thì động cơ phạm tội mới có điều kiện trở thành hành vi phạm tội. Các yếu tố tạo nên tình huống đó là:
- Các yếu tố xác định thời điểm vị trí, số lượng đồng phạm cũng như số lượng người biết vụ phạm tội xảy ra. Yếu tố này cho thấy một vụ phạm tội xảy ra bao giờ cũng phải xảy ra trên một địa bàn nhất định, tính chất của địa bàn đó ra sao, vị trí như thế nào, thời điểm xảy ra bao giờ, đồng thời một vụ phạm tội xảy ra bao giờ cũng phải có thủ phạm, có thể có một hoặc nhiều tên và trong quá trình xảy ra vụ phạm tội có thể có nhiều người biết về nó.
- Các yếu tố xác định tính chất của đối tượng bị xâm hại, chẳng hạn con người với tư cách là đối tượng tác động của vụ phạm tội giết người hay cố ý gây thương tích (số lượng người bị tấn công ít, ốm yếu hay bị hạn chế về thể lực, trí lực); hoặc đồ vật với tư cách là đối tượng tác động của tội phạm trong vụ phạm tội xâm phạm sở hữu về tài sản (nhiều hay ít, có giá trị lớn hoặc rất lớn,..).
- Các yếu tố xác định điều kiện bảo vệ của đối tượng bị xâm hại, có nghĩa là thực tế đối tượng bị xâm hại không được bảo đảm an toàn, lỏng lẻo,.. sẽ tạo nên điều kiện thuận lợi cho đối tượng phạm tội.
Tình huống phạm tội rất đa dạng và phong phú, trong quá trình nghiên cứu về tình huống phạm tội có thể phân loại tình huống dựa trên các tiêu chí sau: Theo tiêu chí thời gian, thì tình huống xảy ra trong thời gian rất ngắn; tình huống xảy ra trong thời gian tương đối ngắn; tình huống xảy ra trong một thời gian tương đối dài. Theo tiêu chí nguồn gốc phát sinh là, do người phạm tội cố ý tạo nên, tạo thuận lợi cho vụ phạm tội xảy ra; do người phạm tội tạo nên nhưng không phải do cố ý; hoặc do thiên tai, hoả hoạn tạo nên.
Trong thực tế cũng như trong lý luận đang tồn tại một số quan điểm cho rằng, yếu tố “tình huống trong một vụ phạm tội cụ thể” với “yếu tố nạn nhân của tội phạm” chỉ là một. Chúng tôi cho rằng, đây là quan điểm chưa chính xác, bởi tình huống trong một vụ phạm tội cụ thể với yếu tố nạn nhân của tội phạm là hai phạm trù khác nhau, mặc dù có một số điểm trùng hợp, bởi trong nhiều trường hợp phạm tội cả hai yếu tố này đều là nhân tố thuộc về điều kiện, do đó nhìn về mặt hình thức khó có thể phân biệt được sự khác nhau giữa yếu tố nạn nhân và yếu tố tình huống. Ví dụ, A có thói quen cẩu thả khi ngủ thường quên khóa cửa, trong nhà lại có nhiều tài sản đắt tiền, người hàng xóm B thường xuyên chứng kiến, sau một thời gian lòng tham của người này nổi lên, trong một lần A ngủ đêm không khóa cửa, nên B đã không cưỡng được đã lẻn sang trộm tài sản của A, trường hợp này “thói quen cẩu thả” của A chính là yếu tố nạn nhân làm phát sinh ý định và thúc đẩy động cơ phạm tội của B. Hoặc cũng với thói quen này của A, đối tượng C là đối tượng trộm cắp chuyên nghiệp, biết nhà A giàu có nên có ý định trộm cắp, trong một lần đến nhà A để cắt khóa vào trộm cắp, nhưng khi đến nơi thấy cửa nhà A không khóa, lại ngủ say nên C đã dễ dàng lẻn vào lấy tài sản. Như vậy, trong tình huống này “thói quen cẩu thả” của A vừa là yếu tố nạn nhân của tội phạm vừa là yếu tố tình huống trong vụ phạm tội.
Tuy nhiên, hai nội dung này có vai trò khác nhau trong vụ phạm tội, bởi yếu tố “tình huống phạm tội” thường là chủ thể tội phạm có ý định phạm tội từ trước, khi chuẩn bị hay tiến hành thực hiện tội phạm đã gặp (kết hợp) với các điều kiện khách quan sẵn có và một phần (rất ít) của sự chủ quan của nạn nhân, đã tạo nên tình huống thuận lợi để chủ thể tội phạm thực hiện hành vi phạm tội trong một vụ phạm tội. Có nghĩa rằng, tình huống trong một vụ phạm tội, thì động cơ phạm tội sẽ thúc đẩy thành hành vi phạm tội khi nó có được sự tác động của một tình huống cụ thể tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi phạm tội. Còn “yếu tố nạn nhân của tội phạm” là nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu tố chủ quan của nạn nhân góp phần làm nẩy sinh ý định phạm tội của chủ thể tội phạm và thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội trong một vụ phạm tội. Có nghĩa rằng, trước đó chủ thể hoàn toàn chưa hoặc không có ý định phạm tội, chỉ khi chịu sự tác động của các yếu tố nạn nhân mới hình thành ý định và quyết định việc thực hiện hành vi phạm tội. 
Chính vì vậy, những yếu tố nạn nhân này có thể vừa là nguyên nhân vừa là điều kiện góp phần làm phát sinh tội phạm. Điều này chứng minh sự khác biệt với yếu tố tình huống trong một vụ phạm tội, bởi yếu tố tình huống trong một vụ phạm tội có thể chỉ có một phần lỗi của nạn nhân tạo nên một phần nhỏ bé động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội của chủ thể mà không thể trở thành yếu tố tạo nên một phần nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Một điều khác biệt nữa là, trong các vụ phạm tội có yếu tố tình huống, thì chủ thể tội phạm trong quá trình chuẩn bị phạm tội hoặc bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội (gây án), khi đến hiện trường bất ngờ gặp một trong các tình huống thuận lợi sẽ dễ dàng hơn khi thực hiện tội phạm. Cũng có trường hợp trước khi gây án chủ thể đã tìm cách tạo ra những tình huống thuận lợi để gây án một cách dễ dàng (ví dụ, đối tượng có ý định phạm tội trộm cắp tài sản, ngày hôm trước giết chó của chủ nhà để hôm sau vào trộm cắp tài sản). Trong thực tế, yếu tố nạn nhân của tội phạm thường có mối quan hệ với yếu tố tình huống trong vụ phạm tội, có nghĩa rằng, yếu tố nạn nhân góp phần tạo nên nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, khi người phạm tội ở trong các tình huống thuận lợi (như hoàn cảnh, không gian, thời gian, địa điểm, đối tượng tác động của tội phạm) sẽ nhanh chóng và dễ dàng hơn khi phạm tội. Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn giữa yếu tố nạn nhân của tội phạm với yếu tố tình huống trong một vụ phạm tội, thậm chí có một số quan điểm cho rằng hai nội dung này chỉ là một.
Như vậy, đối với yếu tố tình huống trong vụ phạm tội, chủ thể tội phạm luôn có ý định phạm tội từ trước, khi chuẩn bị phạm tội hay khi bắt tay thực hiện hành vi phạm tội, chủ thể bao giờ cũng tìm cách tạo nên tình huống thuận lợi để thực hiện tội phạm hoặc đến hiện trường gặp tình huống thuận lợi, chủ thể triệt để lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội mà không phải là yếu tố góp phần tạo nên nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm. Còn yếu tố nạn nhân của tội phạm là những yếu tố góp phần tạo nên một phần nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm. Từ sự phân biệt nêu trên cho thấy, yếu tố nạn nhân trong Tội phạm học chính là những yếu tố thuộc về lỗi của nạn nhân góp phần tạo nên nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh phạm tội, điều này khác với yếu tố tình huống trong một vụ phạm tội. Yếu tố nạn nhân ở đây chỉ là một bộ phận nhỏ trong việc nghiên cứu về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm trong mối liên hệ giữa nạn nhân với người phạm tội. Việc phân biệt chính xác hai vấn đề này giúp cho cơ quan chức năng xây dựng hoàn thiện các quy phạm pháp luật phòng ngừa, điều tra tội phạm; giúp cho các cơ quan chức năng thực hiện tốt việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ, phòng ngừa cá biệt; giúp cho cơ quan điều tra xây dựng các giả thiết điều tra sát hợp trong điều tra khám phá vụ án hình sự.

 

GS, TS. Nguyễn Thiện Phú
Học viện CSND

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi