Thứ Năm, 6/8/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số nguyên nhân cơ bản của tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hiện nay, thành phố có 1.270 làng có nghề chiếm gần 56% tổng số làng, trong đó 244 làng nghề truyền thống. Song số làng có nghề phân bố không đều đa số tập trung chủ yếu ở các huyện: Phú Xuyên 125 làng, Thường Tín 120 làng, Chương Mỹ 174 làng, Ứng Hoà 113 làng, Thanh Oai 101 làng, Ba Vì 91 làng..., một số huyện có số lượng làng có nghề rất ít như: Từ Liêm 12 làng, Mê Linh 10 làng, Sóc Sơn 2 làng… Đến nay, Hà Nội có tới 47 nghề trên tổng số 52 nghề trên toàn quốc, trong đó, có một số nhóm ngành nghề đang có xu hướng phát triển nhanh như: gốm sứ, khảm trai, mây tre đan, sơn mài, đồ gỗ, điêu khắc… Sự phát triển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hư¬ớng CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút đ-ược nhiều lao động, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác như¬ thư-ơng mại, dịch vụ, vân tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện nư¬ớc… Đến nay, nhiều làng nghề đã góp phần tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Cụ thể cơ cấu công nghiệp, thương mại chiếm từ 70-80%, cơ cấu nông nghiệp chỉ còn chiếm từ 20-30%. 
Các làng nghề đang trong giai đoạn phát triển mạnh, tuy nhiên cùng với việc gia tăng phát triển cả về số lượng làng nghề và loại ngành nghề, ô nhiễm môi trường cũng ngày càng tăng, nhiều nơi vượt quá tầm kiểm soát của các cấp chính quyền. Qua điều tra khảo sát cho thấy hầu hết hộ sản xuất trong các làng nghề đều không chấp hành các quy định của Luật Bảo vệ môi trường gây nên tình trạng ô nhiễm nặng nề, mà nổi cộm là vấn đề các khí thải, nước thải, chất thải rắn chưa được xử lý đã thải thẳng ra môi trường. Qua điều tra khảo sát cũng như căn cứ vào các báo cáo tổng kết về thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề Hà Nội của các cơ quan chức năng có thể nhận định thấy hiện trạng môi trường làng nghề ở Hà Nội đang ở mức nghiêm trọng. Ảnh hưởng do ô nhiễm từ làng nghề đến môi trường sống được chứng minh bằng thực tế là tuổi thọ trung bình của những người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ của khu dân cư không nghề. Tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da, hô hấp, đau mắt, ung thư tại các làng nghề cao hơn nhiều so với làng không nghề, cụ thể: tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp 40% - 50%, bệnh tiêu chẩy 10% - 80%, bệnh da liễu 70% - 20%...(Theo số liệu thống kê của Phòng PC49 Công an thành phố Hà Nội). Điều này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh, uy hiếp đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề mà còn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của chính người dân.

Tình trạng ô nhiễm môi trường tại một làng nghề ở Hà Nội

Nguyên nhân của tình trạng trên là do:
- Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT làng nghề còn thiếu và chưa cụ thể
Luật BVMT năm 2005 là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực môi trường, trong đó có một điều riêng (Điều 38) về BVMT làng nghề và các điều khoản khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên để triển khai thực hiện luật, cần có các văn bản cụ thể. Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một văn bản dưới luật nào quy định riêng đối với các nội dung về BVMT làng nghề, phân cấp quản lý và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng.
Làng nghề rất đa dạng về loại hình sản xuất và quy mô phát triển, có những đặc thù riêng không giống với các ngành công nghiệp, dịch vụ khác. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng đối với vấn đề BVMT làng nghề theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làng nghề. Các văn bản hướng dẫn hiện hành đều quy định chung cho tất cả các loại hình sản xuất kinh doanh, do đó để áp dụng được đối với làng nghề nhiều khi không phù hợp hoặc khó áp dụng. Ví dụ, theo Nghị định 80/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT và Nghị định 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 80, mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh dịch vụ đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết BVMT (đối với các dự án đầu tư cơ sở mới) hoặc phải lập đề án BVMT (đối với các cơ sở đang hoạt động). Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như các hộ sản xuất trong các làng nghề vì nhiều lý do khác nhau mà không có báo cáo tác động môi trường hay đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Thực tế cho thấy, nội dung này rất khó có thể áp dụng được đối với đặc thù làng nghề; do đó cần thiết phải nghiên cứu, ban hành một hình thức cam kết BVMT với một nội dung đơn giản, riêng biệt, dễ thực hiện.
Đối với Nghị định 81/2006-NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, nếu áp dụng đúng theo quy định thì hầu hết các hộ sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong làng nghề hiện nay đều phải thuộc đối tượng bị xử phạt, xử lý dòng thải đạt quy chuẩn hoặc phải đóng cửa cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay do đặc thù của làng nghề với các mối quan hệ xã hội phức tạp, tình làng nghĩa xóm... các cấp quản lý, các cơ quan chức năng rất khó có thể tiến hành các thủ tục xử phạt vi phạm hành chính cũng như các thủ tục cưỡng chế đối với đối tượng là cộng đồng dân cư trong làng nghề.
Mặc dù một số nội dung BVMT làng nghề cũng được đề cập đến trong các văn bản khác như Nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn nhưng cũng chưa có các quy định cụ thể về việc các làng nghề (được pháp lý hoá) phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, phải có các biện pháp giảm thiểu phát sinh khí thải... 
Mặt khác, chưa có hệ thống chế tài nghiêm khắc đủ sức răn đe sự vi phạm nên hiệu quả công tác phòng chống tội phạm và VPPL về môi trường ở các làng nghề còn thấp. Ví dụ như việc quy định tội phạm môi trường có 3 mức độ là “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Trên thực tế, qua 10 năm thực hiện BLHS năm 1999 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, chúng ta vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này, nên rất khó khăn cho công tác xử lý. Hay như việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS quy định chỉ truy cứu TNHS đối với cá nhân VPPL hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân. Vì vậy, đây là lỗ hổng lớn của pháp luật cần phải sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản BLHS, trong đó phải thiết lập chế định TNHS của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vi vi phạm của các tổ chức, hộ sản xuất, doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.
- Thứ hai, công tác quản lý nhà nước về sản xuất và BVMT tại các làng nghề còn ít được quan tâm, không đáp ứng được yêu cầu
Các làng nghề hiện nay đều nằm trong tình trạng chung là công tác quản lý, BVMT chưa được quan tâm đúng mức như tất cả các xã đều không có kế hoạch BVMT riêng cho địa phương mình, chính quyền hầu như chưa thể nắm bắt hết những bất cập về môi trường tại địa phương… Nhiều khi chính quyền chỉ biết các thông tin về ô nhiễm môi trường khi có sự kiện cáo giữa các hộ sản xuất và hộ không sản xuất, nhà dân và còn nhiều lúng túng trong việc xử lý những tranh chấp này. Những bất cập, tồn tại, hạn chế này xuất phát từ những nguyên do cơ bản sau:
+ Sự phân công phân cấp cơ quan quản lý còn nhiều bất cập, chồng chéo và thiếu tính đồng bộ.
+ Lực lượng cán bộ làm công tác môi trường ở các cấp còn quá mỏng về số lượng và hạn chế về trình độ.
+ Phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức cho cộng đồng làng nghề chưa được các cấp chính quyền quản lý chú trọng.
+ Công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về BVMT thiếu tính sáng tạo, chưa phong phú về nội dung, chưa gắn kết chặt chẽ với các đoàn thể, tổ chức xã hội.
- Thứ ba, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về BVMT làng nghề của người dân còn thấp
Qua nghiên cứu thực trạng VPPL về môi trường ở các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy loại VPPL này xảy ra xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là nhận thức về vấn đề môi trường của người dân vẫn còn hạn chế, thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
+ Việc quán triệt và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT làng nghề còn chậm. Rất nhiều người dân sống và sản xuất trong các làng nghề không hiểu quyền và trách nhiệm của mình trong công tác BVMT. 
+ Do đặc thù làng nghề nên trình độ của người dân làng nghề nhìn chung thấp, cộng với tính bảo thủ cố hữu của người nông dân... dẫn đến nhận thức của chủ cơ sở sản xuất và người lao động tại các làng nghề về tác hại của việc gây ô nhiễm môi trường còn hạn chế.
+ Do quan niệm không đúng về sự phát triển kinh tế, mục đích đạt được cuối cùng là kinh tế mà không chú trọng đến công tác BVMT. Hay nói cách khác là các cơ sở sản xuất tại các làng nghề nhận thức được tác hại của việc gây ô nhiễm môi trường nhưng không chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT vì nặng tư tưởng chạy theo lợi nhuận và mục đích kinh tế.
- Thứ tư, nguyên nhân từ phía cơ quan bảo vệ pháp luật
 Tình trạng VPPL về bảo vệ môi trường nói chung, tình trạng VPPL về môi trưởng ở các làng nghề trên địa bàn Hà Nội nói riêng thời gian qua có một phần trách nhiệm của lực lượng CAND, trong đó có lực lượng Cảnh sát phòng chống Môi trường. Lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường là lực lượng mới ra đời và đi vào hoạt động, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn còn có mặt hạn chế. Đội ngũ cán bộ chiến sỹ được điều động từ nhiều đơn vị nghiệp vụ khác nhau nên trình độ, kiến thức thực tế chưa đồng đều, số cán bộ có kỹ năng hiểu biết về khoa học môi trường không nhiều... Về tổ chức bộ máy của lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường hiện nay còn chưa phù hợp, nhất là ở cấp huyện chỉ có lực lượng kiêm nhiệm, thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể... nên ảnh hưởng tới hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và VPPL về BVMT nói chung, môi trường ở các làng nghề nói riêng còn hạn chế.
Sự phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường với các cơ quan chức năng liên quan đến công tác BVMT còn lỏng lẻo, nhiều khi mang tính hình thức, chạy theo vụ việc cụ thể, dẫn đến sự chồng chéo, bị động, đùn đẩy trách nhiệm…
- Thứ năm, đầu tư tài chính cho BVMT làng nghề chưa tương xứng
+ Đầu tư của nhà nước về cơ sở hạ tầng cho nông thôn nói chung, làng nghề nói riêng chưa tương xứng với sự phát triển và không đáng kể. Nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác BVMT tại các làng nghề rất khan hiếm. Cũng do đặc thù sản xuất nhỏ, vốn không nhiều nên các chủ hộ không muốn và nhiều khi không thể chi phí cho công tác BVMT tại cơ sở mình. Theo điều tra nghiên cứu cho thấy các cơ sở sản xuất làng nghề trong quá trình xây dựng, hoạt động chủ yếu đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ sản xuất; chưa chú ý nhiều đến việc đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý các loại nước, khí, rác thải. Với quy mô hộ gia đình, sản xuất chủ yếu mang tính tự phát, thiết bị thủ công, lạc hậu, manh mún… dẫn đến gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong khi đó, việc vay vốn hay tìm nguồn hỗ trợ để cải thiện môi trường cho các hộ sản xuất không khả thi vì hầu như không có tổ chức tài chính nào trên địa bàn cho vay vốn vào công việc này.
Để hạn chế ô nhiễm môi trường, trên địa bàn thành phố đã có chủ trương xây dựng cụm công nghiệp làng nghề hoặc khu sản xuất tập trung. Tuy nhiên, công tác quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tập trung cho làng nghề còn nhiều vấn đề tồn tại. Cụ thể như:
+ Trong quá trình triển khai các cơ sở thường gặp nhiều khó khăn về quy hoạch và chiến lược phát triển, cơ sở hạ tầng mới chỉ dừng lại ở việc cấp điện, hệ thống đường giao thông nội bộ đơn giản, một số ít khu có hệ thống thoát nước, tổ thu gom, vận chuyển chất thải rắn đến bãi rác của xã, thôn, hầu hết không có quy định về BVMT, không có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chưa có hệ thống quản lý môi trường chung…
+ Tại một số khu quy hoạch sản xuất tập trung, các hộ sản xuất không chỉ di chuyển bộ phận sản xuất mà lại di chuyển cả gia đình. Ví dụ như tại làng nghề Vạn Điểm (huyện Thường Tín) chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, dù đã có gần 200 hộ sản xuất được sắp xếp ra cụm công nghiệp làng nghề nhưng cụm công nghiệp này đã bị "biến tướng" thành khu dân cư kết hợp sản xuất nghề. Hơn 80% số hộ xây dựng nhà cao tầng trong cụm công nghiệp. Một số nơi, diện tích của cụm công nghiệp chủ yếu được các hộ bố trí làm điểm giao dịch, còn việc sản xuất vẫn làm ở xưởng gia đình. Do vậy, các khu công nghiệp này hiện giống với khu giãn dân và là hình thức mở rộng ô nhiễm.
+ Bên cạnh đó, Ban quản lý chủ yếu cấp đất cho cơ sở sản xuất còn cơ sở phải tự chịu trách nhiệm di dời và xây dựng cơ sở hạ tầng nhà xưởng, kể cả hệ thống cấp điện nước. Các cơ sở sản xuất nhỏ vì vậy gặp rất nhiều khó khăn về tài chính và vì không có quy định cưỡng chế nên họ vẫn tiếp tục sản xuất ở cơ sở cũ mà không vào khu tập trung. 
- Thứ sáu, việc quản lý và xử lý các VPPL về môi trường ở các làng nghề còn khó thực hiện
Công tác kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về BVMT tại các làng nghề trên địa bàn Hà Nội chưa được thường xuyên và triệt để, xử phạt hành chính các hành vi gây ô nhiễm môi trường tại làng nghề còn chưa nghiêm.
Mặt khác, đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong làng nghề, nếu áp dụng các quy định hiện hành của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì không một cơ sở nào không bị xử phạt với các lỗi vi phạm rất phổ biến như không có hồ sơ về môi trường; xả chất thải vượt tiêu chuẩn môi trường; xả chất thải có chứa các thành phần nguy hại vượt ngưỡng.... Tuy nhiên, đây là vấn đề mang tính xã hội, là điều kiện sống, là đời sống của người dân. Nên trên thực tế, nhiều đợt kiểm tra vẫn chỉ dừng lại ở hình thức nhắc nhở. 
Bên cạnh đó, công cụ kinh tế theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” chưa được áp dụng triệt để. Bởi với mức thu thuế, phí, lệ phí thấp như hiện nay thì hiệu quả của những công cụ này chưa cao, do chưa đánh nhiều vào quyền lợi của các chủ thể có liên quan. Đây cũng là một trong những lý do khiến nhiều chủ cơ sở sản xuất chấp nhận chịu phạt và tiếp tục vi phạm.
Trên đây là một số nguyên nhân cơ bản khiến tình trạng VPPL về môi trường ở các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội đã và đang diễn ra vô cùng phức tạp, có xu hướng gia tăng phổ biến và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đây là một bài toán khó đang đặt ra cho các cơ quan chức năng, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm khắc phục, tiến tới xóa bỏ tình trạng trên. Cụ thể:
Một là, tham mưu, đề xuất, tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động của lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường;
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi công dân trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và VPPL về bảo vệ môi trường ở các làng nghề;
Ba là, kiện toàn, hoàn thiện, đào tạo lực lượng phòng chống tội phạm về Môi trường đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống tội phạm và VPPL về môi trường ở các làng nghề trong giai đoạn hiện nay;
Bốn là, nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cơ bản trong phòng ngừa VPPL về môi trường ở các làng nghề;
Năm là, phát hiện kịp thời và đấu tranh triệt để các vụ vi phạm để răn đe phối hợp với các ban ngành chức năng và cơ quan chuyên trách trong phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường ở các làng nghề đạt hiệu quả.

 

Ngô Thị Mai Linh
ThS, Khoa Luật, T32 
Lại Kiên Cường
TS, Phó khoa CSKT, T32

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác