Thứ Năm, 6/8/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Giám sát môi trường trong xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi - Một số bất cập và biện pháp khắc phục

Theo mục tiêu của dự án có thể chia các dự án xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi thành ba loại: Dự án khai thác và sử dụng nguồn nước (là các dự án xây dựng các công trình để khai thác, điều hoà nguồn nước và dẫn nước cung cấp tới các hộ sử dụng), Dự án bảo vệ nguồn nước (là dự án xây dựng trạm xử lý nước thải, đập ngăn mặn…để bảo vệ chất lượng nước), và Dự án phòng chống và giảm nhẹ các thiên tai về nước (là các dự án nghiên cứu các giải pháp và biện pháp công trình để phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ các thiên tai về nước).
Một dự án lớn có thể kết hợp một, hai hoặc cả ba loại hình dự án nêu trên. Thí dụ các hồ chứa lớn thường là hồ chứa lợi dụng tổng hợp với nhiều mục tiêu như cấp nước cho tưới, phát điện và chống lũ cho hạ lưu.. Một dự án cải tạo vùng cửa sông ven biển có xây dựng cả hệ thống đê biển, cống tưới hoặc tiêu, công trình chỉnh trị cửa sông, bờ biển…

 

Một công trình thủy lợi khai thác sử dụng tài nguyên nước, phòng chống lũ lụt, hạn hán. Ảnh minh họa

1. Đặc điểm hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi liên quan tới giám sát và đánh giá tác động môi trường
Trong đánh giá tác động môi trường của các hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi cần chú ý đến một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Có nhiều mục tiêu 
Các hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi thường có nhiều mục tiêu. Thí dụ xây dựng một hồ chứa cấp nước và phòng lũ có thể kết hợp với phát điện và điều tiết nước bảo vệ môi trường vùng hạ du. 
Trong một dự án mục tiêu nào quan trọng nhất được coi là mục tiêu chính, còn các mục tiêu khác là kết hợp. Những vấn đề môi trường nảy sinh trong dự án đều xuất phát từ những hoạt động của dự án để thực hiện các mục tiêu trên. Do vậy, khi xem xét lợi ích cũng như tác động tới môi trường của dự án phải xuất phát từ các mục tiêu chính và mục tiêu kết hợp của dự án.
- Thời gian hoạt động dài 
Các hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi thường có thời gian hoạt động khá dài, thường là vài chục năm tới một hai trăm năm, nhưng các hoạt động thường có tính không liên tục. Thí dụ một dự án hồ chứa cấp nước tưới thì chủ yếu hoạt động vào mùa khô, còn dự án công trình bảo vệ bờ sông như đê, kè thì hoạt động chủ yếu trong mùa mưa lũ... Các hoạt động của các hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi vì thế cũng có ảnh hưởng lâu dài tới tài nguyên và môi trường.
- Phạm vi ảnh hưởng rộng 
Các hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi nói chung có phạm vi không gian vùng ảnh hưởng khá rộng tuỳ theo mục tiêu và quy mô của dự án. Đây cũng là vùng ảnh hưởng tới môi trường của dự án.
- Cần vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi vốn dài
So với nhiều loại dự án khác, các hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi nói chung đòi hỏi chi phí thuộc loại lớn. Chi phí chủ yếu của dự án là chi phí đầu tư ban đầu để xây dựng công trình. Do vậy thời gian thu hồi vốn là dài.
- Sử dụng nhiều nguồn lực và tài nguyên. 
Hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi thường phải sử dụng nhiều nguồn lực và tài nguyên công cộng có giá trị hàng hoá đặc biệt như là đất, nước, rừng, nguồn nhân lực.. Chính đặc điểm này đã tạo nên các ảnh hưởng của dự án đến tài nguyên và môi trường khu vực dự án. Mặt khác, giá cả các hàng hoá đặc biệt này không bộc lộ một cách đầy đủ trên thị trường, nên gây khó khăn cho việc định lượng các tác động môi trường của dự án.

2. Các tác động tiêu cực tiềm ẩn tới môi trường trong giai đoạn xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi 
Trong giai đoạn thi công các công trình Thủy lợi, nếu không có kiểm soát chặt chẽ về phương pháp thi công, thời gian thi công và việc tổ chức thực hiện thì hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi có thể có các tác động tiềm năng xấu như:
- Làm tăng xói mòn, sạt, trượt lở đất xuống lòng sông; 
- Xâm lấn trái phép tới các khu vực xung quanh;
- Làm tăng tình trạng khai thác rừng hoặc phát quang thảm phủ thực vật vượt ra khỏi giới hạn khiến cho rừng bị suy thoái nhanh hơn;
- Nảy sinh vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải xây dựng và chất thải sinh hoạt từ khu lán trại công nhân và các loại chất thải sản xuất từ các nhà xưởng, kho bãi và đất đá thải từ các khu vực khai thác vật liệu xây dựng; 
- Làm tăng khả năng xuất hiện dịch bệnh trong khu vực công trường do tập trung quá đông công nhân trong thời gian thi công.
Ngoài ra khu vực công trình đầu mối các dự án Thủy lợi cũng luôn tiềm ẩn các nguy cơ cháy, nổ, tai nạn, nguy cơ chết người trong hoạt động giao thông, trong xây dựng và khai thác vật liệu.

3. Một số tồn tại, bất cập trong giám sát môi trường các dự án xây dựng cơ bản ngành thủy lợi
Hiện nay công tác giám sát môi trường trong xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều bất cập. Phần lớn các dự án xây dựng cơ bản mới chú ý đến giám sát thi công xây dựng mà chưa quan tâm đúng mức đến giám sát môi trường chuyên trách. Hầu như các dự án xây dựng cơ bản đều coi nhiệm vụ giám sát môi trường đã được kết hợp trong nhiệm vụ giám sát thi công xây dựng. Ngay cả nhiều dự án lớn cũng không có kỹ sư giám sát môi trường chuyên trách. Việc giám sát thực hiện các biện pháp giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong giai đoạn thi công theo nội dung đã được đề xuất trong báo cáo đánh giá tác động môi trường không được chú ý. Do vậy, trong hoạt động xây dựng cơ bản nói chung và ngành Thủy lợi nói riêng thường có một số bất cập sau:
- Ở nhiều dự án, khu lán trại công nhân và những nơi tập trung đông công nhân không có các công trình thu gom và xử lý nước thải, rác thải sinh hoạt dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân và những cộng đồng dân cư xung quanh.
- Việc thải bỏ đất đá thừa trong nhiều dự án xây dựng cơ bản ở vùng miền núi và thải bỏ bùn đất thừa từ các dự án xây dựng kênh mương hay nạo vét sông, hồ và kênh rạch ở khu vực đồng bằng chưa được giám sát chặt chẽ nên đất đá thừa không được vận chuyển đúng tuyến, phương tiện vận chuyển không đủ tiêu chuẩn, việc thải bỏ và xử lý không đúng chỗ và đúng cách. Hậu quả là đất đá thừa được thải bỏ bừa bãi và có thể xâm lấn vào đất bảo tồn, đất danh lam thắng cảnh, đất sản xuất và các loại đất có giá trị sử dụng cao khác hoặc gây xói mòn, sạt, trượt lở, bồi lấp ở vùng núi và những nơi có địa hình dốc và gây ô nhiễm môi trường khi thành phần đất đá thải có kim loại nặng và các chất độc hại khác như đất phèn ở một số vùng đồng bằng châu thổ. 
- Việc quản lý, kiểm soát cán bộ, công nhân xây dựng trong giai đoạn thi công không chặt chẽ đã dẫn đến sự xâm nhập trái phép vào các khu bảo tồn, khu vực vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển ... để săn bắn, hoặc khai thác trái phép các lâm sản cũng diễn ra ở một số nơi đã làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và các loài quý hiếm hoặc các loài dễ bị tổn thương.
- Việc kiểm soát không chặt chẽ các biện pháp thi công không thân thiện với môi trường như sử dụng phương pháp nổ mìn ở khu vực gần các khu bảo tồn cũng gây tác động xấu đến các động vật hoang dã trong đó.

4. Kết luận và kiến nghị  
Hoạt động xây dựng cơ bản ngành Thủy lợi là rất cần thiết, nhưng nếu buông lỏng kiểm soát, quản lý Nhà nước sẽ gây tác động xấu đến môi trường. Hiện nay, việc giám sát môi trường trong xây dựng cơ bản nói chung và ngành Thủy lợi vẫn còn nhiều bất cập và đang gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường.
Để khắc phục những bất cập trong giám sát môi trường cần có các chính sách và quy phạm về giám sát môi trường trong xây dựng cơ bản theo hướng chuyên trách, nhất là đối với các dự án vừa và lớn và các dự án ở khu vực có độ nhạy cảm môi trường cao.

 

Nguyễn Văn Sỹ
Trường Đại học Thủy lợi

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Thắng, Lê Đình Thành và Nguyễn Văn Sỹ (2002), Đánh giá tác động môi trường các dự án phát triển tài nguyên nước, NXB Nông Nghiệp.
2. G.B. Wiersma (1981), Environmental Monitoring and Assessment,  scientific journal published by Springer. The managing editor is G.B. Wiersma (University of Maine)

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác