Thứ Sáu, 26/2/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên đường thủy nội địa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

Toàn vùng có 113 tuyến vận tải thủy nội địa thuộc Trung ương quản lý với tổng chiều dài khoảng 2.848 km. Cấp kỹ thuật chủ yếu là cấp III (60%), còn lại khoảng 24% là cấp I và cấp đặc biệt, một số ít là cấp II, cấp IV, không có cấp V. 
Các tuyến chính và dài là tuyến trên sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, sông Cần Giuộc, sông Đồng Tranh, Kênh Chợ Gạo, kênh Hồng Ngự, kênh Tháp Mười số 1, kênh Tháp Mười số 2, kênh Phước Xuyên, kênh 4 Bis, kênh 28, kênh Lấp Vò - Sa Đéc, kênh Rạch Sỏi - Hậu Giang, kênh Tám Ngàn, kênh Rạch Giá - Long Xuyên, kênh Rạch Giá - Hà Tiên, kênh Xà No, kênh Sông Trẹm, sông Cái Bé, sông Cái Lớn, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, sồng Gành Hào, sông Cổ Cò, kênh Bạc Liêu - Cà Mau.
Hệ thống cảng chủ yếu là các cảng ĐTNĐ nhỏ, hiện có 2.167 cảng sông và bến xếp dỡ do nhà nước quản lý trong đó 1.404 cảng, bến có công suất xếp dỡ nhỏ hơn 10.000 tấn/năm, khoảng 171 cảng bến có thể xếp dỡ từ 10.000 tấn đến 100.000 tấn/năm, chỉ có 151 bến có thể xếp dỡ hơn 100.000 tấn/năm. 
Số lượng cảng có thể tiếp nhận tàu có trọng tải lớn thấp, đồng thời những cảng đã có năng lực tiếp nhận thì lại chưa thể phát huy do hạn chế về luồng tuyến. Tình trạng quá tải và ùn tắc cục bộ đã gây khó khăn cho phương tiện lưu thông tại Âu Rạch Chanh và kênh Chợ Gạo.
Như vậy mặc dù là vùng sông nước với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc nhưng các tỉnh ĐBSCL vẫn chưa tận dụng hết lợi thế giao thông thủy. Mặt khác, tỉnh hình TNGT đường thủy đặc biệt trên địa bàn các tỉnh thuộc ĐBSCL hơn 10 năm qua có những diễn biến phức tạp, tuy giảm nhưng chưa bền vững.

Cảng Cần Thơ

Công tác quản lý nhà nước đối với giao thông đường thủy và công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong những năm qua
- Sự quan tâm của các cấp chính quyền, các ngành đến giao thông ĐTNĐ chưa cao, điều đó thể hiện qua việc quy hoạch đã được phê duyệt chi tiết, danh sách dự án ưu tiên đã có… nhưng đầu tư gần như bằng không (giai đoạn 1993 - 2003 tỷ trọng đầu tư cho ĐTNĐ chiếm gần 1.4% đầu tư của ngành GTVT, giai đoạn 2004 - 2014 có nhích hơn, song cũng chỉ ở mức 2%); giao thông ĐTNĐ không được chính quyền các địa phương chú ý (vận tải ĐTNĐ đối với vùng ĐBSCL là rất quan trọng) kinh phí dành cho xây dựng cơ bản, bảo trì luồng tuyến từ ngân sách địa phương hầu như không được bố trí, ngay một việc nhỏ như theo dõi phương tiện đăng ký, đăng kiểm theo phân cấp… cũng làm rất cầm chừng, thiếu sự quyết liệt, nên đến nay các loại phương tiện nhỏ tỉ lệ được đăng ký, đăng kiểm khá thấp. Vì lợi ích cục bộ, một số địa phương, đặc biệt là ở cấp xã, huyện và một số tỉnh không những không ủng hộ mà còn gây khó cho Bộ GTVT, mà trực tiếp là Cục ĐTNĐ trong việc tổ chức quản lý tuyến, triển khai công tác Cảng vụ… dẫn đến những ảnh hưởng không nhỏ như việc khai thác cát tràn lan, xây cầu, kéo dây điện qua sông, mở cảng bến không theo quy hoạch, không đảm bảo tĩnh không, lập đăng, đáy cá… không đảm bảo an toàn trong khai thác vận tải.
- Tình trạng xây nhà, công trình, bến thủy nội địa lấn chiếm khiến hệ thống sông ngòi, kênh rạch ngày càng bị thu hẹp, nhất là tại các địa phương đang đô thị hóa nhanh. Hầu hết các cảng, BTNĐ ít được đầu tư gia cố mà chủ yếu lợi dụng địa hình tự nhiên để hoạt động tự phát khiến cho việc quản lý Nhà nước về giao thông thủy, kiểm tra an toàn cảng, bến, thiết bị xếp dỡ... gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, sự phối hợp hoạt động giữa các địa phương với các cơ quan quản lý chuyên ngành về giao thông thủy để kiểm tra, xử lý tình trạng cảng, bến không phép chưa chặt chẽ và thường xuyên. Đó là chưa kể đến các cơ quan quản lý chuyên ngành về giao thông ĐTNĐ như Cảnh sát đường thủy, các cảng vụ ĐTNĐ, các đoạn quản lý ĐTNĐ... chỉ có thể quản lý kiểm tra kiểm soát trong một giới hạn hẹp và khó có thể thực hiện hàng ngày khi mà hệ thống sông, kênh rạch tại các tỉnh phía Nam rất chằng chịt. 
- Bộ máy quản lý vận tải thủy chưa được các địa phương chú ý nên việc tuyên truyền phổ biến pháp luật, tổ chức thực hiện quy hoạch, đăng kí, đăng kiểm, cấp phép, theo dõi hoạt động vận tải.v.v... làm không liên tục, không đáp ứng được yêu cầu do thiếu nhân lực, trang thiết bị.
- Nhiều đoạn, tuyến sông có mật độ giao thông cao, nhưng vẫn tận dụng tự nhiên là chính, ít được khảo sát, đo đạc, thông báo luồng; các cửa sông bị bồi lắng khá lớn, diễn biến phức tạp, một số chướng ngại vật chưa được thanh thải, một số cầu cũ tĩnh không thấp, khoang thông thuyền hẹp… được đầu tư cải tạo chưa đạt yêu cầu do sự “ru ri” của các cấp có thẩm quyền.
- Giao thông thủy liên tỉnh kết nối giữa TP.Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ cũng đang được đẩy mạnh bằng việc chỉnh trị, nạo vét tuyến kênh Chợ Gạo (Tiền Giang). Mấy năm trở lại đây, hoạt động giao thương này bị ảnh hưởng lớn do tuyến kênh Chợ Giao - tuyến giao thông huyết mạch nối TP.Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Tây Nam Bộ thường xuyên bị sạt lở, xói mòn. Ngoài ra, các phương tiện đánh bắt, nuôi trồng thủy sản mọc lên trên các tuyến ĐTNĐ phía Nam (có 356 công trình chiếm luồng, 835 công trình chiếm hành lang bảo vệ luồng, 652 công trình chưa lắp đặt báo hiệu, 84 công trình không có ý kiến của cơ quan chức năng…) được xem là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều vụ TNGT đường thủy nghiêm trọng.
Tại Vĩnh Long, tuyến sông Măng Thít - Trà Ôn dài 48,5km chảy qua các huyện Vũng Liêm, Tam Bình, Măng Thít, Trà Ôn, nối liền từ sông Cổ Chiên với sông Hậu, được đầu tư nâng cấp và lắp đặt báo hiệu, hệ thống mốc chỉ giới vào năm 2004. Đây cũng là tuyến vận tải quan trọng nối liền vùng ĐBSCL với TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay ATGT trên tuyến đang tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ATGT cho tàu thuyền qua lại nơi đây bởi sự hiện diện của hơn 30 đáy cá đóng lấn chiếm luồng tàu. Hay như tại Bến Tre, trong đợt kiểm tra tuyến vừa qua, cơ quan chức năng đã phát hiện có đáy cá đóng trong khu vực cầu Hàm Luông (phía thượng lưu và hạ lưu cầu), thuộc địa phận xã Bình Phú và xã Mỹ Thành - huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre. Đây là khu vực khá nguy hiểm, dòng chảy rối, phức tạp, khiến nguy cơ tiềm ẩn TNGT tăng cao.
Dù vấn nạn này đã được các ngành chức năng quan tâm, nhiều  địa phương cũng đề ra những phương án để giải quyết nhưng thời gian qua vẫn chưa thể xử lý triệt để do vẫn tồn tại nhiều bất cập như công tác tuyên truyền chưa sâu rộng, công tác quản lý chưa chặt chẽ, ý thức chấp hành luật pháp của người dân còn hạn chế, kinh phí hỗ trợ chuyển nghề cho người dân còn thấp…
- Tình hình trật tự an toàn giao thông đường thuỷ còn diễn biến rất phức tạp và nhiều bất cập, như tình trạng lấn chiếm luồng chạy tàu thuyền và hành lang bảo vệ luồng giao thông cản trở hoạt động GTVT; BTNĐ hoạt động không phép, không đủ điều kiện an toàn để hoạt động còn chiếm tỷ lệ cao,
Theo số liệu thống kê cho thấy, tình hình TNGT ĐTNĐ khu vực này luôn ở mức cao và có diễn biến phức tạp. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2005 - 2014 trên địa bàn các tỉnh, thành phố miền Tây Nam Bộ đã xảy ra 1150 vụ TNGT ĐTNĐ (chiếm khoảng 60,84% số vụ TNGT ĐTNĐ trên phạm vi cả nước); làm chết và mất tích 644 người (chiếm 45,48 % số người chết trên phạm vi cả nước). Mặc dù TNGT ĐTNĐ tại khu vực những năm gần đây có xu hướng giảm, tuy nhiên không ổn định, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát rất khó lường.
Qua phân tích các vụ tai nạn xảy ra trên đường thuỷ cho thấy hầu hết các vi phạm và tai nạn xảy ra đều liên quan đến ý thức, trách nhiệm của những người tham gia giao thông. Về cơ bản các đối tượng điều khiển các phương tiện của Nhà nước, của các doanh nghiệp lớn vận tải đường dài được đào tạo bài bản có trình độ văn hoá, chính trị và pháp luật. Ngược lại, đối tượng này trên các phương tiện nhỏ của tư nhân (vận tải đường ngắn) có trình độ văn hoá nhận thức chính trị và pháp luật rất thấp có những người chỉ biết đọc biết viết, thậm chí còn không biết chữ. Số người không có bằng, chứng chỉ chuyên môn hoặc có bằng, chứng chỉ chuyên môn không phù hợp cao chiếm 36%.
- Phương tiện vận tải phát triển nhanh nhưng mang tính tự phát, chưa có định hướng đầu tư, trang thiết bị lạc hậu, độ an toàn kém, nhất là các loại phương tiện nhỏ, số lượng tăng mạnh nhưng chất lượng không đi đôi với số lượng. Số phương tiện chưa đăng ký, đăng kiểm vẫn hoạt động ngoài Luật còn nhiều (đặc biệt phương tiện cỡ nhỏ), phương tiện không quay lại đăng kiểm còn nhiều.
- Người điều khiển phương tiện không bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn; phương tiện quá trọng tải hoặc chở khách, bến khách ngang sông không đủ các điều kiện an toàn vẫn hoạt động diễn ra khá phổ biến ở các địa phương; tình trạng nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, khai thác tài nguyên trái phép lấn chiếm luồng chạy tàu, thuyền và hành lang ATGT đường thuỷ... gây mất TTATGT, ô nhiễm môi trường còn diễn biến rất phức tạp. 
Tóm tắt các nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại nêu trên:
1. Công tác quản lý nhà nước về giao thông ĐTNĐ của các ngành chức năng, chính quyền các cấp vẫn còn bộc lộ những tồn tại, thiếu sót, chưa phát huy hết khả năng và trách nhiệm.
2. Nhiều địa phương chưa xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển GTVT ĐTNĐ; chưa quy hoạch hệ thống cảng, bến thủy nội địa, các khu vực khai thác tài nguyên cát, sỏi, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, họp chợ, làng chài...
3. Các văn bản quy phạm pháp luật về ĐTNĐ hiện hành vẫn còn một số quy định không phù hợp hoặc chưa đầy đủ, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện trong thực tiễn.
4. Sự tuỳ tiện, thiếu ý thức, trách nhiệm của một bộ phận chủ cảng, bến, phương tiện, người lái phương tiện người tham gia giao thông trong việc chấp hành pháp luật về giao thông ĐTNĐ. Đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận đăng kiểm viên giảm sút, gây phiền hà cho chủ phương tiện bỏ bước kiểm định; chưa thực sự hiểu chuyên sâu về công tác đăng kiểm, dẫn đến việc thực hiện công tác đăng kiểm không đạt được yêu cầu nhiệm vụ đề ra.    
5. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về  TTATGT ĐTNĐ trong thời gian qua đã có những hiệu quả nhất định, tuy vậy vẫn chưa xứng với kỳ vọng. Đặc biệt, trong việc tuyên truyền người dân khu vực ĐBSCL nâng cao nhận thức của việc đăng kiểm (kể cả người chủ phương tiện và người sử dụng phương tiện). Đặc biệt là sử dụng các phương tiện loại nhỏ theo khoản 2 điều 24 Luật giao thông ĐTNĐ.
6. Tình trạng phương tiện thuỷ không đăng ký, đăng kiểm; người điều khiển phương tiện không bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn; phương tiện quá trọng tải hoặc chở khách, bến khách ngang sông không đủ các điều kiện an toàn vẫn hoạt động diễn ra khá phổ biến ở các địa phương.
7. Việc khai thác tài nguyên, nuôi trồng thủy sản, xây dựng công trình lấn chiếm hành lang luồng tạo nguy cơ gây mất TTATGT, ô nhiễm môi trường còn diễn biến rất phức tạp và ảnh hưởng đến hoạt động khai thác vận tải.

Một số giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông, tăng cường hiệu  bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long
Để tình hình giao thông ĐTNĐ được ổn định, đảm bảo trật tự, an toàn, thông suốt, cần tăng cường thực hiện tập trung vào một số nội dung sau:
1. Trong những năm tới, để nâng cao hiệu quả thực thi Luật giao thông đường thủy nội địa, các cơ quan, ban ngành và nhất là chính quyền địa phương xã, phường cần phải xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên lâu dài, cần tăng cường phối hợp, hướng dẫn rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. 
2. Cục Đường thủy nội địa Việt Nam đã yêu cầu các địa phương quy hoạch lại vùng khai thác, nuôi trồng thủy sản để đảm bảo công ăn việc làm cho người dân; tăng cường công tác tuyên truyền đến từng hộ gia đình để nhận thức rõ hơn sự nguy hiểm của các công trình trên sông; tăng cường tuần tra kiểm soát trên các con sông, kênh để xử lý triệt để những trường hợp vi phạm; hỗ trợ kinh phí chuyển đổi nghề hợp lý cho người dân...
- Đẩy nhanh triển khai quy hoạch phát triển GTVT vùng kinh tế trọng điểm Vùng ĐBSCL đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 11/2012/QĐ-TTg ngày 10 tháng 02 năm 2012.
3. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao ý thức người tham gia giao thông, góp phần bảo đảm an toàn giao thông, trong đó giải pháp mang tính hiệu quả, có chiều sâu là tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền ATGT trên các phương tiện thông tin đại chúng, đa dạng hóa các sản phẩm truyền thông: tuyên truyền trực quan, tuyên truyền lưu động, sử dụng thông điệp, băng rôn, khẩu hiệu, triển lãm tranh ảnh, các hội thi, vận động sáng tác âm nhạc, phim ảnh, văn học nghệ thuật về chủ đề ATGT; Song song, các địa phương cần phối hợp với Cục ĐTNĐ Việt Nam mở các lớp đào tạo, triển khai, trao đổi chi tiết nội dung các văn bản pháp quy về Luật giao thông ĐTNĐ cho các đơn vị quản lý có liên quan. 
4. Giải pháp về kết cấu hạ tầng giao thông: Với những đóng góp to lớn của vận tải thủy, các cơ quan quản lý Nhà nước cần có những giải pháp đồng bộ tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp và bảo trì luồng tuyến đường thủy huyết mạch; xây dựng quy hoạch chi tiết phát triển mạng lưới ĐTNĐ, cảng, bến, kho bãi… làm cơ sở để đầu tư theo từng dự án, giai đoạn. Chú trọng tổ chức quản lý các tuyến đường thủy có lưu lượng vận tải lớn liên vùng và khu vực. Có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển các cảng đầu mối, cảng chính ở những khu vực trọng điểm, bảo đảm hệ thống luồng, cảng ĐTNĐ phát huy hiệu quả khai thác cao nhất cùng với các phương thức vận tải khác.
5. Rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đường thủy nội địa
Trong giai đoạn hiện nay, một số quy định cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp tinh hình phát triển kinh tế - xã hội, dựa trên cơ sở của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông ĐTNĐ, như: quy định về hành lang bảo vệ luồng chạy tàu, thuyền; 
- Rà soát các quy định về đào tạo, cấp bằng, chứng chỉ chuyên môn cho thuyền viên và người lái phương tiện thuỷ và quản lý vận tải thuỷ; quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông ĐTNĐ. 
- Rà soát các văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực đăng kiểm phương tiện thủy nội địa (PTTNĐ) như Nghị định của Chính phủ Quy định niên hạn sử dụng của PTTNĐ; Thông tư ban hành quy chuẩn kỹ thuật cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi PTTNĐ. Đồng thời phải đẩy nhanh tiến độ công tác đăng ký, đăng kiểm phương tiện để thực hiện đúng quy định của Luật giao thông ĐTNĐ và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; hoàn thiện các Đề án liên quan đến công tác bảo đảm TTATGT đường thủy.
6. Các Sở Giao thông vận tải cần nâng cao năng lực các đơn vị đăng kiểm để thực hiện nhiệm vụ được giao; Các đơn vị đăng kiểm cần báo cáo với chính quyền địa phương và phối hợp với các lực lượng tuần tra kiểm soát tại địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, tích cực phối hợp để đưa được số phương tiện chưa đăng kiểm còn đang hoạt động trôi nổi vào đăng kiểm, hoàn thành nhiệm vụ đăng kiểm theo phân cấp.
7. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra; công tác phối hợp liên ngành; công tác quản lý luồng tuyến ở các cấp bảo đảm trật tự an toàn giao thông
- Tăng cường công tác liên ngành giữa 3 Cục: Cục ĐTNĐ, Cục CSGT và Cục Đăng kiểm Việt Nam ở cấp cục và cấp cơ sở, tập trung phối hợp kiểm tra, xử lí tại các trọng điểm về ATGT để đạt hiệu quả cao.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, ngăn chặn các hành vi vi phạm về TTATGT đường thủy; trong đó tập trung xử lí nghiêm các vi phạm về chở quá số người, phương tiện thủy không đăng ký, đăng kiểm, không đảm bảo các yêu cầu về trang thiết bị cứu sinh; bến đò hoạt động khi chưa được cấp phép, người lái phương tiện không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn theo quy định; đình chỉ hoạt động đối với người điều khiển không có chứng chỉ điều khiển phương tiện hoặc hoặc có bằng, chứng chỉ chuyên môn không phù hợp với loại phương tiện đang điều khiển theo quy định; hoặc đưa phương tiện không đảm bảo vào lưu hành và chở quá số người quy định; 
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động vận tải hành khách ngang sông, vận tải hành khách theo tuyến cố định, vận tải khách du lịch, tập trung kiểm tra vào các thời điểm trong mùa lễ, hội, mùa thi, dịp lễ, tết; xử lý triệt để các hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây TNGT, như chất lượng phương tiện không đảm bảo, người điều khiển không có bằng, chứng chỉ chuyên môn, chở quá số người được phép chở trên phương tiện; hoạt động khai thác cát, sỏi trong phạm vi luồng và hành lang bảo vệ luồng.
- Tiếp tục tập trung hoạt động kiểm tra, ký cam kết đối với các bến khách ngang sông trước, trong mùa bão lũ trong việc đảm bảo ATGT trong mọi tình huống; nhắc nhở các chủ bến khách ngang sông, chủ bến đò chấp hành các quy định của pháp luật về hạ tầng bến bãi như nhà chờ, đường lên xuống bến, hệ thống chiếu sáng… đảm bảo đúng kỹ thuật, tạo điều kiện an toàn cho phương tiện, hành khách qua sông .
- Đảm bảo an toàn luồng tuyến, bến, điểm neo đậu phương tiện, tập trung những địa bàn, bến khách ngang sông, dọc sông thường xuyên có trẻ em sinh sống và tham gia giao thông hoặc những nơi có lưu lượng mật độ người tham gia giao thông thủy lớn.
8. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng phong trào “Văn hóa giao thông với bình yên sông nước” trong giai đoạn tiếp theo, xây dựng và áp dụng những mô hình, các làm hay của các địa phương như “Đoàn viên thanh niên với văn hoá giao thông”, “Bến đò ngang an toàn” nhằm phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của đoàn viên, hội viên, thanh niên trong công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về ATGT và trực tiếp tham gia giữ gìn TTATGT tại các bến đò, bến khách ngang sông.

 

Hoàng Hồng Giang
Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác