Thứ Tư, 8/7/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Công tác đào tạo nhân lực trong lĩnh vực an toàn giao thông đường thủy nội địa ở Việt Nam

Cả nước có hơn 3.500 sông, kênh (hơn 3.000 sông, kênh nội tỉnh và hơn 400 sông, kênh liên tỉnh, chảy ra biển thông qua 124 cửa sông, với tổng chiều dài hơn 80.500 km, trong đó có khoảng 42.000 km sông, kênh có khả năng khai thác vận tải đường thủy. Cùng với hệ thống, sông, kênh trong nội địa, nước ta còn có hơn 3.200 km bờ biển, hàng trăm km đường từ đất liền ra đảo, nối các đảo trong vùng nội thủy đã và sẽ tổ chức quản lý, khai thác vận tải thủy nội địa.Với điều kiện thuận lợi như vậy nên từ xưa đến nay, GTVT ĐTNĐ góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Những năm gần đây, nhất là từ sau khi Luật giao thông ĐTNĐ được ban hành và có hiệu lực, vận tải thủy phát triển mạnh cả về khối lượng vận chuyển, loại hình cũng như tuyến vận chuyển, loại hàng hóa và địa bàn hoạt động. Cùng với sự phát triển ngày càng tăng của vận tải thủy, số lượng phương tiện và đội ngũ thuyền viên, người lái PTTNĐ cũng phát triển không ngừng.
Trong thời gian qua, Bộ GTVT và Cục ĐTNĐ Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp hữu hiệu để đảm bảo TTATGT ĐTNĐ, tình hình TNGT ĐTNĐ bước đầu đã được kiềm chế, song vẫn còn xảy ra những vụ TNGT nghiêm trọng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các vụ tai nạn, trong đó có những lỗi thuộc về người điều khiển phương tiện: người điều khiển phương tiện không có bằng, chứng chỉ chuyên môn (CCCM) hoặc có những trường hợp có bằng nhưng không phù hợp… Đội ngũ thuyền viên, người lái phương tiện là nhân tố quan trọng góp phần quyết định đối với an toàn trong hoạt động vận tải thủy nội địa. vì vậy, nâng cao chất lượng công tác đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa (PTTNĐ) là một nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo TTATGT trong lĩnh vực ĐTNĐ.
1. Thực trạng công tác đào tạo nhân lực trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa tại Việt Nam
a. Các quy định pháp luật
Hiện nay công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ và đảm nhiệm chức danh thuyền viên PTTNĐ được thực hiện theo các quy định sau:
- Theo Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học: có các chuyên ngành bậc đại học, cao đẳng về điều khiển tàu thủy, máy tàu thủy, quản lý vận tải. Người học sau khi tốt nghiệp sẽ được cấp bằng đại học, cao đẳng. 
- Theo Luật dạy nghề (hiện nay là Luật giáo dục nghề nghiệp): có các nghề trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp về điều khiển tàu thủy, máy tàu thủy, quản lý vận tải thủy. Người học sau khi tốt nghiệp sẽ được cấp bằng cao đẳng, trung cấp, sơ cấp.
- Theo Luật Luật giao thông ĐTNĐ 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giao thông ĐTNĐ 2014, Bộ trưởng Bộ GTVT quy định điều kiện của cơ sở đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện; quy chế tuyển sinh; nội dung, chương trình đào tạo; các loại CCCM; quy chế thi, cấp, đổi bằng, CCCM cho thuyền viên, người lái phương tiện... Bộ GTVT đã phối hợp với các Bộ, cơ quan Bộ, ngành và các địa phương liên quan xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật Giao thông ĐTNĐ. Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công tác đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện, cụ thể:
+ Thông tư số 56/2014/TT-BGTVT ngày 24/10/2014 của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định thi, kiểm tra, cấp, cấp lại, chuyển đổi giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, CCCM thuyền viên, người lái PTTNĐ và đảm nhiệm chức danh thuyền viên, PTTNĐ. Trong đó, có quy định cụ thể về các loại giấy chứng nhận khả năng chuyên môn và CCCM đối với thuyền viên, người lái PTTNĐ; yêu cầu về bằng cấp, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn và CCCM đối với từng vị trí. Đồng thời, Thông tư cũng quy định điều kiện cụ thể dự thi, kiểm tra lấy giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, CCCM, theo đó những người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề, cao đẳng trở lên được đào tạo theo nghề điều khiển tàu thủy hoặc nghề máy tàu thủy được dự thi lấy giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng nhất hoặc máy trưởng hạng nhất, không phải dự học chương trình tương ứng do Bộ GTVT ban hành.
+ Thông tư số 57/2014/TT-BGTVT ngày 24/10/2014 của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định về cơ sở vật chất, kỹ thuật của cơ sở dạy nghề và chương trình đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ. Thông tư đã quy định nội dung, chương trình đào tạo cụ thể cho từng chức danh thuyền viên, người lái PTTNĐ. Đồng thời, Thông tư cũng quy định cụ thể các yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn của cơ sở đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, tiêu chuẩn đối với phòng học, xưởng và khu vực thực hành, bến bãi, cầu tàu, điều kiện về tài liệu giảng dạy, điều kiện về giáo viên, các hạng mục công trình cơ bản, các phòng chức năng và các công trình phụ trợ khác để các tổ chức, cá nhân xây dựng, cơ quan nhà nước kiểm tra, thẩm định, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động.
+ Quyết định số 18/2005/QĐ-BGTVT ngày 24/03/2005của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định trách nhiệm và hình thức xử lý vi phạm trong công tác đào tạo, thi, kiểm tra, cấp, đổi bằng, CCCM, thuyền viên, người lái PTTNĐ.
b. Công tác quản lý đào tạo
Cục ĐTNĐ Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông ĐTNĐ trên phạm vi cả nước, Sở GTVT các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quản lý công tác đào tạo tại các địa phương, các cơ sở dạy nghề quản lý công tác đào tạo tại cơ sở mình. Trong thời gian qua, Cục ĐTNĐ Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Sở GTVT các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc kiểm tra, thẩm định cấp giấy chứng nhận cơ sở dạy nghề đủ điều kiện đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ cho các cơ sở dạy nghề, yêu cầu các cơ sở dạy nghề công bố kế hoạch đào tạo và học phí, kiểm tra, thanh tra, giám sát các cơ sở dạy nghề đối với việc thực hiện các quy định của pháp luật và kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo.
Cục ĐTNĐ Việt Nam đã bước đầu đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ, hiện nay các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương đang tiến hành cập nhật dữ liệu về thuyền viên, người lái PTTNĐ trong phạm vi toàn quốc. Mặt khác, triển khai thực hiện kế hoạch cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực ĐTNĐ của Bộ GTVT, Cục ĐTNĐ Việt Nam phấn đấu đến 15/12/2015 sẽ áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với 10 thủ tục liên quan đến công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ.
c. Mạng lưới cơ sở dạy nghề thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa
Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục nói chung và xã hội hoá giáo dục đối với lĩnh vực đào tạo nghề, mạng lưới các cơ sở dạy nghề thuyền viên, người lái PTTNĐ được hình thành, phát triển mạnh mẽ, đa dạng, phong phú và rộng khắp trên toàn quốc, trực thuộc nhiều Bộ, Ngành, cơ quan chủ quản khác nhau như Bộ GTVT, Bộ Quốc phòng, UBND các Tỉnh, Thành phố, Cục ĐTNĐ Việt Nam, Sở GTVT các Tỉnh, Thành phố, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, các doanh nghiệp.
Tính đến hết tháng 10/2015, trên toàn quốc đã có 39 cơ sở dạy nghề được thẩm định, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện dạy nghề thuyền viên người lái PTTNĐ. Trong đó, khu vực miền Bắc có 15 cơ sở, khu vực miền Trung có 07 cơ sở, khu vực miền Nam có 17 cơ sở. Các cơ sở dạy nghề thuyền viên, người lái PTTNĐ được hình thành và phát triển mạnh mẽ theo hướng xã hội hoá, trong số 39 cơ sở có 01 cơ sở thuộc Bộ GTVT, 02 cơ sở thuộc Cục ĐTNĐ Việt Nam, 25 cơ sở thuộc các tỉnh, thành phố, 03 cơ sở thuộc Bộ Quốc phòng, 08 cơ sở thuộc các Công ty.
d. Kết quả đào tạo và số lượng thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa 
Tính đến hết tháng 10/2015, trên toàn quốc đã đào tạo cấp được 312.534 GCNKNCM (bằng), CCCM thuyền viên, người lái PTTNĐ. Trong đó:
- Thuyền trưởng các hạng: 110.189 
- Máy trưởng: 40.439
- CCCM và giấy chứng nhận: 161.906 
e. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ được duy trì. Hàng năm, Bộ GTVT, Cục ĐTNĐ Việt Nam thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác này ở các địa phương, kịp thời xử lý các sai phạm.

Hội thảo khoa học về công tác Bảo đảm ATGT đường thủy


2. Đánh giá một số kết quả đạt được và một số tồn tại, hạn chế
- Về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 
Bộ GTVT đã phối hợp với các Bộ, cơ quan Bộ, ngành, các địa phương xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật. Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công tác đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện, qua đó tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh góp phần đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ. Bên cạnh đó, Bộ GTVT thường xuyên tiến hành rà soát hệ thống văn bản liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc tổng hợp báo cáo đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân tham gia học tập. Cùng với công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Hàng năm, Cục ĐTNĐ Việt Nam thường xuyên tổ chức các hội nghị tại các khu vực trên toàn quốc nhằm tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về giao thông ĐTNĐ cho các cán bộ quản lý, doanh nghiệp và người dân. Các văn bản mới, những nội dung mới liên quan đến lĩnh vực giao thông ĐTNĐ trong đó có công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ được tuyên truyền, phổ biến kịp thời đến các tổ chức, cá nhân liên quan.
Trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, Cục ĐTNĐ Việt Nam đã chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện cũng được Cục ĐTNĐ Việt Nam đặc biệt coi trọng, tất cả các hội đồng thi, kiểm tra trong năm 2015 đều được giám sát công khai, minh bạch. 
- Về công tác đào tạo
Trong những năm qua, các cơ sở dạy nghề thuyền viên, người lái PTTNĐ đã có rất nhiều cố gắng, tập trung đầu tư, nâng cấp: Đội ngũ giáo viên tăng về số lượng và chất lượng; chương trình đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện đã được đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tế; cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật tăng cả về số lượng và chất lượng. Đến nay, hầu hết các cơ sở dạy nghề thuyền viên, người lái PTTNĐ đã đảm bảo đủ điều kiện về cơ sở vật chất các trang thiết bị kỹ thuật, dụng cụ học tập theo quy định.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đào tạo nhân lực trong lĩnh vực ATGT ĐTNĐ vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được khắc phục để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên, người lái đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, cụ thể:
+ Hiện nay trên cả nước đã có 39 cơ sở đào tạo đủ điều kiện dạy nghề, cấp giấy chứng nhận thuyền viên, người lái PTTNĐ. Tuy nhiên, các cơ sở đào tạo tập trung phân bố không đồng đều gây khó khăn cho người học khi có nhu cầu tham gia học tập.
+ Trong công tác quản lý công tác đào tạo: Hiện nay cơ sở dữ liệu về quản lý bằng, CCCM và thuyền viên, người lái PTTNĐ chưa hoàn chỉnh, chưa được thống nhất giữa các cơ sở đào tạo trên toàn quốcdẫn đến việc kiểm tra, tra cứu giữa các cơ quan chức năng thường gặp khó khăn.
3. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa
- Về văn bản quy phạm pháp luật và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
Cục ĐTNĐ Việt Nam cần thường xuyên tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ kết hợp với việc lấy ý kiến tham gia góp ý của các địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân. Trên cơ sở đó cần tổng hợp, rà soát, chỉnh lý và đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định có liên quan theo hướng khắc phục các tồn tại, bất cập, đáp ứng công tác quản lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực thi pháp luật.
Song song với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cũng cần được các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương quán triệt, có nhận thức đúng đắn và thấy được vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông ĐTNĐ nói chung và các quy định về công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ nói riêng. Từ đó cần nghiên cứu, phân tích, phân loại đối tượng để có phương pháp tuyên truyền phù hợp nhằm đưa Luật giao thông ĐTNĐ và các quy định về công tác đào tạo thuyền viên, người lái PTTNĐ đến với người dân.
- Đối với công tác quản lý đào tạo của Bộ Giao thông vận tải và Cục Đường thủy nội địa Việt Nam
Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về quản lý bằng, CCCM và thuyền viên, người lái PTTNĐ.
Tăng cường tổ chức rà soát, kiểm tra về định biên, tiêu chuẩn chức danh thuyền viên, người lái đối với tất cả PTTNĐ, qua đó tổng hợp, phân tích, đánh giá về chất lượng thuyền viên, người lái PTTNĐ để có các giải pháp nâng cao chất lượng cụ thể.
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới công tác quản lý thuyền viên, công tác đào tạo, thi và cấp bằng, CCCM cho thuyền viên, người lái PTTNĐ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên và người lái.
- Đối với các cơ sở dạy nghề thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa
Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng đáp ứng yêu cầu hội nhập và nhu cầu của thị trường lao động.
Tăng cường đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên đảm bảo đạt chuẩn quốc gia, từng bước đạt chuẩn khu vực, quốc tế.
Thường xuyên cập nhật, bổ sung chương trình đào tạo bảo đảm tính khoa học, hiện đại, hệ thống, thực tiễn, linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của thị trường lao động; phân bố hợp lý thời gian giữa các khối lượng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; bảo đảm việc liên thông giữa các trình độ giáo dục nghề nghiệp với các trình độ đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân; người học khi chuyển từ trình độ đào tạo thấp lên trình độ đào tạo cao hơn cùng ngành, nghề hoặc khi chuyển sang học ngành, nghề khác thì không phải học lại những nội dung đã học.
Mở rộng các hình thức đào tạo, đào tạo lại; tăng cường xã hội hóa công tác đào tạo; tăng cường phối hợp và gắn kết giữa đơn vị sử dụng nguồn nhân lực với các cơ sở đào tạo, huấn luyện để đảm bảo nhân lực có kiến thức và kỹ năng sát với nhu cầu thực tế công việc và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo.

 

Trần Văn Lâm
Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Giao thông vận tải

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác