Thứ Ba, 23/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Bảo đảm trật tự an toàn giao thông - tiếp cận từ thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của Nhật Bản

Quản lý TTATGT là sự tác động có hướng đích của các chủ thể quản lý nhà nước về TTATGT trong đó CSGT là lực lượng nòng cốt; dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật về GTVT của nhà nước để điều chỉnh quá trình hoạt động GTVT và hành vi hoạt động của người tham gia giao thông, nhằm duy trì, ổn định và phát triển các yếu tố cấu thành hoạt động giao thông theo mục tiêu đã đề ra.
Nhìn lại chặng đường 70 năm qua. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo sát đúng của Bộ Công an đối với công tác quản lý TTATGT. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được của công tác bảo đảm TTATGT trong 70 năm qua chúng ta cần khẳng định: TTATGT trên địa bàn cả nước vẫn cơ bản vẫn được giữ vững và ổn định; kết quả đó đã góp phần làm đẹp bộ mặt xã hội của đất nước, đồng thời là nền tảng cơ bản vững chắc để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Bên cạnh những kết quả đã đạt được không ai có thể phủ nhận, công tác bảo đảm TTATGT đang đặt ra những nhiệm vụ mới nặng nề, phức tạp hơn, do tác động của các yếu tố về chủ quan và khách quan; đặc biệt đối với các thành phố lớn, cần sớm nghiên cứu có biện pháp khắc phục kịp thời. 
Tình hình TTATGT trong những năm gần đây tuy ổn định, TNGT từng bước giảm cả ba tiêu chí nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ bùng phát mất TTATGT. Các yếu tố cấu thành hoạt động giao thông quốc gia như: hạ tầng giao thông, phương tiện giao thông, ý thức người tham gia giao thông, môi trường pháp lý trong công tác bảo đảm TTATGT chưa tương thích, đang tạo ra những xung đột trong lĩnh vực TTATGT nhưng chưa có lời giải tối ưu; theo đó, vi phạm pháp luật giao thông, tai nạn, ô nhiễm môi trường, UTGT, chống lại CSGT trong khi thi hành công vụ vẫn xảy ra...đang là những vấn đề bức xúc được xã hội quan tâm, chưa có giải tối ưu. Theo thống kê chưa đầy đủ, những yếu tố tác động đến TTATGT đang có những diễn biến khó lường:
Trên lĩnh vực đường bộ: Từ năm 2010 đến hết năm 2015 đã xảy ra 34.512.071 vụ vi phạm, trung bình mỗi năm xảy ra 5.752.012 vụ, tiền phạt thu thu nộp ngân sách 14.217 tỷ, tước giấy phép lái xe: 2.087.606 trường hợp, tạm giữ  687.463 phương tiện. Tính chất hành vi vi phạm rất đa dạng: dừng đỗ sai qui định, đi sai làn đường, chạy quá tốc độ qui định, chở quá khổ, quá tải, người điều kiên khiển phương tiện xử dụng lồng độ cồn quá qui định, không chấp hành hiệu lệnh biến báo giao thông.... 
Về tai nạn từ năm 2010 đến hết năm 2015 cả nước đã xảy ra: 141.127vụ TNGT làm chết 58.487 người, trung bình mỗi năm có 9748 người chết do TNGT; số người bị thương 135.981 người trung bình mỗi năm có 22.663,5 người bi thương do TNGT. 
Về phương tiện giao thông cơ giới tính đến hết năm 2015 không kê số phương tiên của Quân đội và Công an xử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng và không kể số xe nhập lậu qua biên giới không được đăng ký, quản lý, lực lượng CSGT đã đăng ký, quản lý: 2.861.702 xe ô tô các loại, mô tô là 47.760.854 trung bình cứ 2 người Việt Nam có một xe mô tô, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến ùn tắc, tai nạn. 
Về tình hình UTGT, không kể số vụ UTGT cục bộ, đặc biét là tại các đô thị, các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ trọng điểm; kết quả thống kê các vụ ùn tắc kéo dài trên 1 giờ cho thấy từ năm 2010 đến hết năm 2015 trên địa bàn cả nước đã xảy ra: 1.137 vụ, trung bình mỗi năm xảy ra 189,5 vụ. 
Về tình hình chống lại lực lượng CSGT khi thi hành công vụ, không kể những vụ việc nhỏ không được các địa phương thông kê, tính từ năm 2006 đến hết năm 2015 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 594 vụ chống lại CSGT thi hành công vụ làm 7 cán bộ CSGT hy sinh, 256 cán bộ, chiến sỹ CSGT bị thương, lực lượng CSGT đã phối hợp các lực lượng nghiệp vụ xử lý 633 đối tượng chống lại CSGT thi hành công vụ. Trong đó tập trung tại các thành phố lớn Hà Nội chiếm 34,38%; Hải Phòng chiếm 6,8%; thành phố Hồ Chí Minh chiếm 6,6%; Quảng Ninh chiếm 2,1%; Bình Định chiếm 1,6%...
Trên lĩnh vực ĐTNĐ tình hình TTATGT diễn biến cũng hết sức phức tạp. Về tai nạn ĐTNĐ từ năm 2010 đến hết năm 2015 trên địa bàn cả nước đã xảy ra: 805 vụ tai nạn, trung bình mỗi năm xảy ra 134,2 vụ. Làm chết 641 người, bị thương 136 người,; chìm đắm 796 phương tiện, thiệt hại 167,2 tỷ đồng. 
Tình hình vi phạm pháp luật giao thông ĐTNĐ từ 2010 đến hết 2015 đã xảy ra: 1.343.204 vụ vi phạm, không kể số vụ vi phạm ẩn không bị phát hiện, không bị xử lý; thu tiền phạt nộp kho bạc nhà nước 607.33 tỷ...
Những con số về TTATGT đường bộ, ĐTNĐ nêu trên đang đặt ra cho các cơ quan quản lý Nhà nước về TTATGT, trong đó có lực lượng CSGT hết sức năng nề; cần phải có những giải pháp hữu hiệu, cấp bách, kịp thời để từng bước khắc phục những hạn chế, thiếu sót nói trên, để đáp ứng yêu cầu bảo đảm TTATGT trong những năm tới.

Kinh nghiệm trong công tác quản lý trật tự an toàn giao thông của Cảnh sát quốc gia Nhật Bản có thể, xem xét, vận dụng ở Việt Nam góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao thông 
Trong phạm vi bài viết do thời gian và kiến thức hiểu biết còn hạn chế tác giả xin chia sẻ một vài kinh nghiệm nhận ra từ việc nghiên cứu hoạt động của Cảnh sát quốc gia Nhật Bản trong công tác bảo đảm TTATGT. Tác giả xin chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực đường bộ cũng là điều hiển nhiên vì nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đang quan tâm, vì TTATGT đường bộ đang phát sinh nhiều vấn đề phức tạp; đó là TNGT, ô nhiễm môi trường và UTGT, vi phạm TTATGT đường bộ đã đến mức báo động mà con người đang phải gánh chịu. Bảo đảm TTATGT đường bộ là một tất yếu, khách quan, là nhu cầu đòi hỏi của toàn xã hội, đang được các nhà quản lý quan tâm . Vậy làm thế nào để bảo đảm TTATGT? làm thế nào để người tham gia giao thông không phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do hoạt động giao thông đường bộ để lại? Có rất nhiều quan điểm, hiến kế và giải pháp khác nhau, kể cả trên phương diện lý luận và trong hoạt động thực tiễn. 
Ở quốc gia đất nước mặt trời mọc vào những năm đầu 70 của thế kỷ XX người nghiên cứu được biết trung bình một năm ở Nhật Bản có trên 17 nghìn người chết do TNGT, TNGT đã trở thành chiến nạn cần phải có biện pháp mạnh để đối phó với thảm họa này. Sau gần 50 năm lỗ lực thực hiện các giải pháp bảo đảm TTATGT đường bộ với mục tiêu: tất cả vì con người, được sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền, sự vào cuộc của các ngành các cấp, sự tham gia với ý thức trách nhiệm và tự giác của người dân, TTATGT đường bộ ở quốc gia Nhật Bản đã trở thành mong ước lý tưởng của nhiều quốc gia trên thế giới; số người chết do TNGT ở Nhật Bản từng bước giảm cơ bản, đến nay đã giảm hơn ¾ số người chết so với năm 1970. 

Hệ thống giao thông của Nhật Bản có chỉ số an toàn bậc nhất thế giới

Để đạt được thành quả nêu trên Cảnh sát quốc gia Nhật Bản đã tham mưu cho chính quyền xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện chiến lược về giao thông đường bộ. Để giải quyết được TTATGT đường bộ người Nhật đặc biệt quan tâm đến 2 vấn đề cơ bản: môt là, phải giải quyết hài hòa và đầu tư thích đáng đối với các yếu tố cấu thành hoạt động giao thông đường bộ; khai thác mọi tiềm năng nội lực và hợp tác với các nước phát triển để thực hiện mục tiêu này; thứ 2 là song hành với quá trình đầu tư phát triển hoạt động giao thông đường bộ; để hỗ trợ cho giao thông đường bộ một loạt các hoạt động giao thông mang tính tổng thể được nhà nước kết nối, tận dụng mọi nguồn vốn của nhà nước và đầu tư của nhân dân tham gia vào các lĩnh vực giao thông công cộng như: Hệ thống tàu điện ngầm, hệ thông tàu siêu tốc, hệ thống đường sắt trên cao, hệ thống đường thủy, đường hàng không... Để góp phần bảo đảm TTATGT đường bộ.
Một số hoạt động cụ thể Cảnh sát quốc gia Nhật Bản đã làm để hỗ trợ, bảo đàm TTATGT đường bộ: 
- Trước hết nói về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giao thông, nâng cao ý thức tự giác chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông, được xác định là trách nhiệm của toàn xã hội, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội của mỗi người dân từ trung ương đến cơ sở; mỗi người dân đều thấy rõ trách nhiệm của mình với cộng đồng, họ sắn sàng đóng góp, chia sẻ cơ sở vật chất và tinh thần để hỗ trợ với nhà nước với các nước nghèo chậm phát triển có cơ hội để tìm kiếm giải pháp bảo đảm TTATGT phòng tránh những hiểm họa đối với con người. Cộng đồng xã hội có thái độ liên quyết đối với các hành vi vi phạm pháp luật giao thông; Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của người Nhật đơn giản, thiết thực, hiệu quả, đi sâu vào lòng người, không phô trương hình thức, cờ rong trống mở; ngược lại họ kiên trì, bề bỉ. Nội dung tuyên truyền, không chung chung, không dài dòng mà được cụ thể hóa ngắn gọn thông qua tờ rơi, những việc không nên làm và những việc cần phải làm của CSGT, của các cơ quan, tổ chức xã hội và người dân tình nguyện gắn với từng loại đối tượng tham gia các loại hình giao thông; không tuyên truyền chung chung, tuyên truyền vu vơ, không có địa chỉ rõ ràng. Hình thức tuyên truyền đơn giản, đa dạng, thuyết phục có sức thu hút, đi sâu vào lòng người gắn với tâm lý, lứa tuối, với từng loại đối tượng tham gia giao thông.
- Về công tác đào tạo nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ bảo đảm TTATGT đường bộ. Đào tạo lực lượng CSGT chủ thể trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm TTATGT là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng ”Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Sản phẩm đào tạo ra có chất lượng, có phẩm chất đạo đực tốt, vững về kiến thức pháp luật, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có phong cách làm việc vững vàng, có thái độ quan hệ văn hóa, ứng xử đúng đắn thuyết phục được người tham gia giao thông đó là những phẩm chất không thể thiếu đối với lực lượng CSGT làm nhiệm vụ bảo đảm TTATGT. Kết quả nghiên cứu về CSGT của Nhật bản, tác giả xin nêu khái quát một vài nguyên tắc cơ bản trong đào tạo CSGT của người Nhật: Đào tạo gắn liền với sử dụng; đào tạo theo hướng chuyên môn hóa; công tác đào tạo được phân chia theo thứ bậc rõ ràng, chặt chẽ; đào tạo lý thuyết đi đôi với thực hành; đa dạng hóa nguồn đầu vào của công tác đào tạo để tận dụng kiến thức của các ngành khoa học phục vụ công tác bảo đảm TTATGT; chú trọng công tác đào tạo lại để cập nhật kiến thức theo thời gian gắn với công tác đào tạo nâng cao. Với nguyên tắc đào tạo nói trên, nguồn nhân lực bảo đảm TTATGT luôn luôn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao trong công tác bảo đảm TTATGT.
- Về công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe. Theo kinh nghiệm của người Nhật; vấn đề TNGT, UTGT, vi phạm pháp luật giao thông, nguyên nhân sâu xa của nó phải nói đến chất lượng công tác đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe cơ giới. Để nâng cao chất lượng người điều khiển phương tiện xe cơ giới, nhằm kéo giảm tai nạn, vi phạm luật giao thông cần phải xây dựng cơ chế chính sách ràng buộc giữa cơ sở đào tạo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc sát hạch cấp giấy phép điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Đối với cơ quan kiểm tra, thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành phải tăng cường hoạt động thanh tra các cơ sở đào tạo và cơ quan nhà nước có thầm quyền trong việc sát hạch cấp giấy phép điều khiển phương tiện. Theo đó Nhà nước có qui định cụ thể kiểm tra định kỳ người điều khiển phương tiện về các nội dung an toàn theo qui định của luật để loại trừ những người không còn đủ điều kiện điều khiển phương tiện. Mặt khác, để nâng cao năng lực tác nghiệp của người điều khiển phương tiện đường bộ; Bộ Công an dưa trên cơ sở kinh nghiệm của các nước phát triển và thực tiễn ở Việt Nam cần tham mưu cho Chính phủ tổng kết công tác đào tạo sát hạch, cấp giấy phép lái xe; đề xuất phương thức quản lý đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe mới theo hướng xã hội hóa công tác đào tạo; cơ quan, tổ chức, công dân nào có đủ điều kiện về sân bãi, phương tiện, đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo... theo chuẩn quốc gia sẽ được cấp phép đào tạo, việc sát hạch cấp giấy phép nên trả lại cho lực lượng CSGT cơ quan quản lý nhà nước về TTATGT như trước đây, hoặc tổ chức hội đồng liên ngành CSGTvà GTVT để chế ước những hiện tượng tiêu cực trong công tác sát hạch, nâng cao chất lượng người điều khiển, giảm thiểu TNGT đường bộ.
- Về công tác tổ chức mạng lưới giao thông và công tác cưỡng chế vi phạm TTATGT. Về hạ tầng giao thông, tổ chức mạng giao thông ở Việt Nam theo nhận xét của các chuyên gia nghiên cứu về ATGT của Nhật Bản họ cho rằng hệ thống đường giao thông của Việt Nam tính theo bình quân đầu dân số chưa thiếu nhiều. Nhưng chung ta đang thiếu và yếu về phương pháp tổ chức mạng giao thông và khai thác hệ thống hạ tầng giao thông đã có; nhiều tuyến đường mật độ phương tiện tham gia giao thông quá tải, dẫn đến ùn tắc, vi phạm, TNGT; bên cạnh đó nhiều tuyến đường kể cả đường trong các đô thị chưa được tận dụng khai thác triệt để dẫn đến lãng phí; hơn nữa việc tổ chức hệ thông thông tin tín, báo hiệu đường bộ chưa hợp lý làm cho các đối tượng tham gia giao thông khó thực hiện, dẫn đến vi phạm pháp luật giao thông. Đối với công tác cưỡng chế vi phạm, song hành với công tác tuyên truyền, vận đông, hướng dẫn thì việc cưỡng chế là cần thiết, không thể thiếu, cưỡng chế phải đủ mạnh, tạo môi trường pháp lý nghiêm túc có tác dụng trong răn đe, giáo dục, ngăn chặn người vi phạm; cưỡng chế phải kiên quyết, triệt để; đa dạng hóa các hình thức cưỡng chế, cưỡng chế trực tiếp, cưỡng chế thông qua các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chuyên dùng; cải cách thủ tục trong nộp tiền phạt, không nhất thiết phải qua ngân hàng nhà nước. Cương chế có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia giao thông, vấn đề dân chủ trong cưỡng chế là cần thiết, là bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, nhưng dân chủ phải đúng mức, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật qui định. 
- Về chiến lược phát triển phương tiện giao thông. Dưới con mắt của các chuyên gia nghiên cứu về TTATGT của Nhật Bản họ cho rằng chúng ta chưa xây dựng được chiến lược phát triển phương tiện giao thông đường bộ hợp lý. Cơ cấu tỷ lệ ô tô và mô tô ở Việt Nam 1 ô tô có 57 xe mô tô, so với các nước trong khu vực, chiến lược phát triển phương tiện của Việt Nam hoàn toàn bị phá vỡ khác xa với các nước trong khu vực, ở Thái Lan  cứ 2 xe máy có 1 ô tô; Ở Ma lai, In đô cứ 7 đến 8 xe máy có 1 xe ô tô. Tỷ lệ phương tiện giao thông công cộng với phương tiện cá nhân được phát triển mất cân đối, nhà nước chưa đủ điều kiện cần thiết để điều phối; phương tiện giao thông công cộng chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa thu hút và đáp ứng nhu cầu đi lại của người tham gia giao thông. Các phương tiện giao thông cơ giới của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và của công dân đã hết thời gian lưu hành, đã có qui định cần phải thu hồi nhưng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có hướng dẫn cụ thể và chưa được tổ chức triển khai thực hiện...
Một vài vấn đề nêu trên tác giả xin chia sẻ, nếu được quan tâm đầu tư vận dụng hợp lý ở Việt Nam nó sẽ có tác động trực tiếp đến công tác bảo đảm TTATGT đường bộ của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, trong đó có lực lượng CSGT. Tất nhiên để giải quyết những bức xúc của tình hình TTATGT đường bộ hiện nay chúng tôi cho rằng không thể giải quyết một sớm, một chiều. Với cách tiếp cận và những kinh nghiệm nêu trên của các nhà nghiên cứu về TTATGT của Cảnh sát quốc gia Nhật Bản chúng tôi hy vọng sẽ có ý nghĩa nhất định nếu được nghiên cứu, vận dụng hợp lý vào thực tiễn của Việt Nam, chắc chắn ít nhiều sẽ giải quyết được phần nào những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra của công tác bảo đảm TTATGT trong những năm tới đây.

 

Đại tá, TS. Pham Trung Hòa
Chuyên viên cao cấp - Học viện CSND


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi