Thứ Tư, 26/9/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số ý kiến trao đổi về những điểm mới quy định tại Điều 228 và Điều 229 Bộ luật Hình sự 2015 đối với tội phạm vi phạm các quy điịnh về quản lý, sử dụng đất đai

Hiện nay, trong quá trình quản lý đất đai vẫn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt khi các cơ quan của Nhà nước được trao quyền quản lý đất đai vì nhiều nguyên nhân, lý do đã thực hiện không đúng các quy định của Nhà nước về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất… Ở những địa bàn cụ thể, chính các cơ quan được giao quyền quản lý lại lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng gây bất bình trong nhân dân, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng, khi triển khai thực hiện các hoạt động từ những khâu được giao đất, thuê đất, được chuyển mục đích sử dụng đất và các hoạt động trong chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người sử dụng lại lợi dụng các quyền năng này thực hiện không đúng các quy định của Nhà nước về đất đai, vi phạm pháp luật, thậm chí phạm tội về quản lý, sử dụng đất đai. Thực tế như vậy đã làm cho tình hình quản lý, sử dụng đất đai có những diễn biến phức tạp, tình trạng khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp, vượt quyền kéo dài.

Nhằm giải quyết tình trạng trên và góp phần đẩy lùi tội phạm vi phạm các quy định quản lý, sử dụng đất đai, Bộ luật hình sự năm 1999 thông qua ngày 21/12/1999 (đã sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định: “Người nào lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng” (Khoản 1, Điều 173)  với khung hình phạt: Từ 3 tháng đến 3 năm; theo đó khoản 2 có khung hình phạt là từ 2 năm tù đến 7 năm tù.

Khoản 1, Điều 174, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật..., có khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù, đối với trường hợp đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, đất có diện tích lớn hoặc có giá trị lớn...; Khoản 2 có khung hình phạt từ 2 năm tù đến 7 năm tù, đối với trường hợp có tổ chức, đất có diện tích rất lớn hoặc có giá trị rất lớn... và khoản 3 có khung hình phạt từ 5 năm đến 12 năm tù, đối với trường hợp đất có diện tích đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng...

Việc xác định tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai ở Điều 173 và Điều 174 đã phần nào đáp ứng các yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai, góp phần đảm bảo môi trường ổn định phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng những quy định này đã xuất hiện nhiều bất cập, khó khăn và vướng mắc trong quá trình giải quyết, xử lý, xác định các hành vi phạm tội, cụ thể như sau:

Một là, Bộ luật hình sự năm 1999 chưa có quy định cụ thể về xử lý hành chính, xử lý kỷ luật. Trong điều 173 chỉ quy định  “...đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng”. Với quy định này thì có nhất thiết mọi trường hợp đều phải bị xử phạt hành chính rồi mới xử lý về hình sự hay không? Trường hợp phạm tội mà trước đó, người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính thì có cần phải làm thủ tục xử phạt hành chính rồi mới truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Bên cạnh đó, Khoản 1, Điều 174 quy định: “Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật... nhưng mục a quy định là đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Thực tế cho thấy, đa số những người phạm tội trong lĩnh vực này thường có nhân thân tốt, có học thức và thường là phạm tội lần đầu do vậy nhiều trường hợp phạm tội mà chưa bị xử lý kỷ luật. Quy định như vậy cũng là một trong những vướng mắc khi giải quyết.

Hai là, Bộ luật hình sự năm 1999 chưa định lượng cụ thể thế nào là “Đất có diện tích lớn - Đất có giá trị lớn”, “Đất có diện tích rất lớn - Đất có giá trị rất  lớn” và “Đất có diện tích đặc biệt lớn - Đất có giá trị đặc biệt lớn”. Vậy diện tích bao nhiêu thì được xem là lớn? Đối với đất trồng lúa, đất trồng rừng các loại hạn mức được áp dụng có giống nhau hay không? Bên cạnh đó việc quy định đất có giá trị lớn... cũng chưa có những giải thích cụ thể, chưa có một định lượng để các cơ quan chức năng áp dụng và viện dẫn một cách đồng bộ và thống nhất.

Chẳng hạn như: Đất ở Hà Nội một mét vuông có thể định giá vài chục triệu thậm chí hàng trăm triệu, có thể nói đó là “đất vàng, đất kim cương”... Nhưng đất ở nông thôn, một sào Bắc Bộ (360 m2) chỉ có giá vài chục triệu, nói cách khác là nó không có giá trị như đất ở thủ đô, đất đô thị... Qua đó cho thấy, việc quy định còn chưa chặt chẽ, thực trạng áp dụng cũng chưa phù hợp với thực tế dẫn đến tình trạng khiếu nại, khiếu kiện...

Ba là, mức phạt tiền quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 đối với các hành vi vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai chưa đủ mạnh để giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế.

Hình thức phạt tiền quy định tại Điều 173 cụ thể như sau: Khoản 1 là từ 5 triệu đến 50 triệu, khoản 2 là 30 triệu đến 100 triệu, khoản 3 là 5 triệu đến 20 triệu. Còn tại Khoản 4, Điều 174 quy định mức phạt tiền là từ 10 triệu đến 150 triệu Việt Nam đồng. Với giá cả hiện hành thì mức tiền phạt này là quá nhẹ đối với các trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên,Bộ luật hình sự năm 2015 (đã thông qua ngày 27/11/2015 và đang chờ thi hành)quy định một số tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng đất đai (Điều 228 và Điều 229). Mặc dù tên và các dấu hiệu pháp lý phản ánh đặc điểm hành vi khách quan của cả hai tội danh về cơ bản là không đổi, song nội dung quy định ở hai điều luật trên đã thay đổi cơ bản theo yêu cầu của tình hình mới, cụ thể như sau:

  •  Cả hai tội đều quy định mức hình phạt cho các hành vi tương ứng (cả hình phạt tù có thời hạn và mức phạt tiền);
  •  Cả hai tội đã cụ thể hóa các trường hợp phạm tội như “phạm tội nhiều lần”  bằng “phạm tội hai lần trở lên”;
  •  Trong tội vi phạm quy định về sử dụng đất đai (Điều 228), tội vi phạm quy định về quản lý đất đai (Điều 229) ở cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng, điều luật đã quy định rõ hình phạt tương ứng với từng loại đất và diện tích đất bị vi phạm theo m2.

Điều 229 đã bỏ các cụm từ như “đất có diện tích lớn” hoặc “đất có giá trị lớn”, “đất có diện tích rất lớn” hoặc “đất có giá trị rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn” hoặc “đất có giá trị đặc biệt lớn”.Thay vào đó là có định lượng cụ thể về hạn mức đất theo m2 và mức phạt tiền tương ứng đối với từng loại đất, giúp cho các cơ quan chức năng lấy đó làm cơ sở để viện dẫn và áp dụng được chính xác.

Khoản 1: Đất trồng lúa có diện tích từ 5.000m2 đến dưới 30.000m2; đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích từ 10.000m2 đến dưới 50.000m2; đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích từ 10.000m2 đến dưới 40.000m2;

Khoản 2: Đất trồng lúa có diện tích từ 30.000m2 đến dưới 70.000m2; đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích từ 50.000m2 đến dưới 100.000m2; đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích từ 40.000m2 đến dưới 80.000m2;

Khoản 3: Đất trồng lúa có diện tích 70.000m2 trở lên; đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích 100.000m2 trở lên; đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích 80.000m2 trở lên;

- Cả hai tội đã nâng mức phạt tiền đủ mạnh, có tác dụng giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế các hành vi phạm tội.

Điều 228, Khoản 1: Mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, Khoản 2 mức phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, Khoản 3 mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Điều 229, Khoản 1: Mức phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp, từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;

Khoản 2: Mức phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến dưới 7.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp hoặc từ 5.000.000.000 đồng đến dưới 15.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;

Khoản 3: Mức phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng trở lên đối với đất nông nghiệp hoặc 15.000.000.000 đồng trở lên đối với đất phi nông nghiệp.

Ngoài việc quy định trên người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Với những điểm mới trên cho thấy, việc quy định tại Điều 228 và Điều 229 Bộ luật Hình sự 2015 đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra kể cả về phương diện lý luận và thực tiễn trong tình hình mới, thể hiện một bước tiến trong quá trình lập pháp.

Tuy nhiên để áp dụng một cách thống nhất và đồng bộ, các cơ quan chức năng đặc biệt lực lượng Cảnh sát kinh tế cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục bổ sung hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai. Bên cạnh Bộ luật Hình sự quy định tại Điều 228 và Điều 229 về quản lý, sử dụng đất đai, trong các văn bản pháp luật khác như luật đất đai, luật nhà ở... cũng liên quan. Để thực hiện tốt các quy định của pháp luật các cơ quan chức năng phải thường xuyên rà soát, hệ thống hóa, kiểm tra các văn bản pháp luật về đất đai và các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm phát hiện các quy định mâu thuẫn, không phù hợp để kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai và các chính sách pháp luật khác có liên quan. Việc giải thích pháp luật cần phải cụ thể hóa, chi tiết hóa để quá trình áp dụng và thực thi pháp luật đúng và đầy đủ tránh trường hợp lợi dụng nó để vi phạm pháp luật hoặc thực hiện các hành vi phạm tội.

Thứ hai, tham mưu cho Đảng, Nhà nước các cấp chính quyền địa phương trong phòng ngừa tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai. Từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về hoạt động liên quan đến lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, khắc phục sơ hở hạn chế trong quản lý Nhà nước về đất đai, về các hoạt động giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất, thế chấp quyền sử dụng đất, về đấu tranh phòng, chống tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ, các bộ ngành, Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất...

Thứ ba, phối hợp lực lượng tuyên truyền, hướng dẫn và vận động quần chúng nhân dân phát hiện, tố giác tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai. Việc thông qua luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm mục đích để các chủ thể quản lý, sử dụng thực hiện và chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng đất đai. Do đó, lực lượng CSKT cần phải phối hợp để tuyên truyền, hướng dẫn và động viên quần chúng nhân dân tích cực đưa ra những thông tin, tố giác tội phạm có biểu hiện liên quan đến tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai, để từ đó lực lượng CSKT trực tiếp hoặc phối hợp cùng với các cơ quan chức năng tiến hành các hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả.

Th.S Nguyễn Văn Hoàng - Khoa Luật - T32

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi