Thứ Ba, 16/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
70 năm ngày Toàn quốc kháng chiến và bài học về sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam
Bản thảo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngày 19/12/1946

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ngay sau khi chính quyền được thành lập, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đối phó với muôn vàn khó khăn, thử thách của “giặc đói”, “giặc dốt”, giặc nội phản và đặc biệt là giặc ngoại xâm. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi biện pháp đấu tranh mềm dẻo nhằm duy trì hòa bình giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc như: Ký Hiệp định Sơ bộ 6/3, chấp nhận cho một bộ phận nhỏ quân đội Pháp kéo vào Hà Nội; cử phái đoàn đàm phán ở Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Phông-ten-nơ-blô; ký Tạm ước Việt - Pháp 14/9 và liên tiếp gửi thư cho Quốc hội và Chính phủ Pháp tố cáo, lên án các hành động khiêu khích, tàn sát nhân dân của Quân đội Pháp… Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới”. Quân và dân ta buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập còn non trẻ vừa mới giành được. Ngày 18 và 19/12/1946, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc. 20 giờ ngày 19/12, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 20/12, tại Hang Trầm (Chương Mĩ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! (…)

Tiếp theo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” là văn kiện thứ hai đề cập đến mục tiêu chính trị của cuộc cách mạng và kháng chiến - mục tiêu “Độc lập Tự do Hạnh phúc”, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống anh hùng, bất khuất “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của dân tộc Việt Nam. Đó còn là lời hiệu triệu, cổ vũ quốc dân, đồng bào kề vai, sát cánh, chung sức, đồng lòng, đoàn kết, nhất trí đánh giặc, giữ nước, đem lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Hưởng ứng Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, nhân dân cả nước nhất tề đứng lên “Ai có súng dùng súng.Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Tiếp bước Hà Nội nổ phát súng đại bác ở Pháo đài Láng mở đầu kháng chiến toàn quốc, các đô thị khác như Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Đà Nẵng…, dưới sự chỉ huy chung, theo một kế hoạch thống nhất từ Bộ Tổng chỉ huy, đã chủ động nổ súng tiến công quân xâm lược, hợp thành một bản hợp xướng - hùng ca của lòng yêu nước và tinh thần quyết chiến quyết thắng, tạo nên một sự mở đầu hiệu quả và hoàn hảo cho hành trình những năm kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Ngày 19-12-1946 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một sự kiện trọng đại, trở thành biểu tượng sáng ngời về tinh thần yêu nước quật khởi, hào hùng của sức mạnh đoàn kết toàn dân trước vận mệnh của đất nước đang lâm nguy.

Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập nên bao kỳ tích: đi tiên phong trong việc đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và đội quân viễn chinh Pháp, đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu mới cùng đội quân xâm lược hàng triệu tên với vũ khí tối tân của đế quốc Mĩ, lập lại hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, Việt Nam đang có những phát triển nhanh chóng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một tăng cường. Có được những thành quả to lớn đó, chúng ta không thể nào quên ý chí quật cường, lòng quả cảm, tinh thần đại đoàn kết một lòng của dân tộc ta trong những ngày kháng chiến lịch sử, đặc biệt là những ngày đầu của Toàn quốc kháng chiến. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, những bài học của Toàn quốc kháng chiến, trong đó có bài học về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vẫn còn giữ nguyên giá trị và cần được vận dụng một cách hiệu quả.

Một là, để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, cần có sự đoàn kết, thống nhất về ý chí, quyết tâm

Trong hoàn cảnh khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc” từ khi chính quyền mới được thành lập, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đối diện với không chỉ âm mưu xâm lược, phá hoại của quân thù mà còn đứng trước thách thức to lớn của nạn đói, hậu quả của nạn dốt, sự thiếu hụt về ngân sách cũng như sự non yếu của chính quyền cách mạng. Bằng quyết tâm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều quyết sách quan trọng nhằm huy động sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc. Mở đầu là “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” đi sâu vào con tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, khơi dậy niềm tự hào, truyền thống yêu nước của dân tộc, thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm một lòng “Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp”. Sau “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ trung ương Đảng và tác phẩm “Kháng chiến nhật định thắng lợi” của đồng chí Trường Trinh đã chỉ ra đường lối chung chỉ đạo cuộc kháng chiến gồm mục đích, tính chất, chính sách, nhiệm vụ và phương châm tiến hành kháng chiến. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là toàn dân kháng chiến, quyết tâm đoàn kết một lòng chung sức đánh bại kẻ thù xâm lược. Đường lối đó xuất phát từ chính nhu cầu, lợi ích của dân tộc do đó đã thôi thúc các dân tộc trên mọi miền Tổ quốc cùng kháng chiến và đi đến thắng lợi cuối cùng.

Hai là, đoàn kết trong hành động là yếu tố quyết định thắng lợi của dân tộc Việt Nam

Tiến hành Toàn quốc kháng chiến trong bối cảnh thực lực chính quyền còn non trẻ, vừa mới thành lập, chưa được quốc tế công nhận, việc Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phương châm của cuộc kháng chiến là “toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính” đã tạo sự lan tỏa tới toàn thể quần chúng nhân dân, tạo một sức mạnh nội sinh to lớn. Trong mọi miền của Tổ quốc, với khẩu hiệu“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, toàn dân tộc một lòng đứng lên hành động, chống giặc cứu nước. Nắm chắc được bài học kinh nghiệm của sức mạnh dân tộc, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, lấy công nhân làm nền tảng để kháng chiến, kiến quốc, Đảng ta đã huy động được nhân lực và vật lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bào Kinh đến đồng bào các dân tộc thiểu số, từ thanh niên trai tráng đến các chị phụ nữ chỉ quen với đồng áng, nội trợ, từ các cụ phụ lão mắt mờ, chân chậm đến những em thiếu niên… đều tham gia kháng chiến. Mỗi người có những nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng chung một mục tiêu “giữ gìn đất nước”. Với khẩu hiệu “Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng”, chúng ta đã động viên sức mạnh của toàn dân tộc tập trung cho cuộc kháng chiến. Do đó, ngay từ khi phát động cuộc kháng chiến, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã nhất tề đứng dậy: công nhân điện phá máy, tắt đèn, cầm súng đánh địch; tự vệ chặt cây, nổ mìn, ngả cột điện, đánh đổ xe lửa, xe điện; nhân dân khuân giường, tủ, bàn ghế ra đường dựng chướng ngại vật chặn bước tiến của địch. Phụ nữ xung phong tải thương, cứu thương. Nông dân các huyện ngoại thành cùng bộ đội và tự vệ xây dựng chiến hào...  anh dũng chiến đấu kìm chân địch trong 60 ngày đêm... Hay trong chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, hậu phương đã chi viện hậu cần cho tiền tuyến tổng số 26.880 tấn lương thực, thực phẩm, 1450 tấn đạn, phối hợp với lực lượng quân y cứu chữa 10.139 thương binh và 4.489 bệnh binh.

Do đó, trong hành trình gian khổ đó, dù có lúc “ngàn cân treo sợi tóc” và phải “khoét núi ngủ hầm”, máu trộn bùn non”, “mưa dầm cơm vắt” nhưng toàn dân tộc vẫn quyết tâm một lòng, làm nên những thắng lợi vĩ đại của chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Và 30 năm sau, cũng nhờ tinh thần ấy, dân tộc ta đã cắm lá cờ đỏ sao vàng trên nóc dinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược, đem lại độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc Việt Nam.

Để có được sức mạnh đại đoàn kết từ trong ý chí và hành động đó là nhờ có tinh thần yêu nước nồng nàn và đường lối tập hợp, đoàn kết đúng đắn, sáng tạo của  toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Kỷ niệm 70 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2016) không chỉ là dịp để chúng ta ôn lại những chiến thắng hào hùng của dân tộc mà còn là cơ hội để rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, phát huy hiệu quả trong mọi tình hình để góp phần xây dựng Việt Nam ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” đúng như sự mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại./.

Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu tuyên truyền 70 năm ngày Toàn quốc kháng chiến.

Trần Như Mai - Tạp chí CSND, T32

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi