Thứ Ba, 25/9/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường nông thôn ở nước ta hiện nay

Trong những năm vừa qua, quán triệt thực hiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực. Đời sống đại bộ phận người dân khu vực nông thôn được cải thiện góp phần nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khu vực nông thôn đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn giai đoạn 2010 - 2020 đã góp phần nâng cao cơ sở vật chất, hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu trong trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong các làng nghề tại khu vực nông thôn. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đã và đang đặt ra những thách thức đối với công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường nông thôn trong giai đoạn hiện nay.

Với tổng diện tích tương đương khoảng 80% diện tích toàn quốc, nông thôn giữ vai trò là vành đai xanh, góp phần giữ cân bằng sinh thái giữa vùng nông thôn và thành thị. Nông thôn là khu vực địa giới hành chính với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, được tổ chức theo đơn vị cơ sở làng - xã và có vai trò là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm chính cho người dân, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất công nghiệp, nằm trên địa bàn rộng lớn về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội. Nông nghiệp nông thôn giữ vị trí trọng tâm, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Khu vực nông thôn chiếm khoảng 67% dân số toàn quốc với nguồn nhân lực, lao động quy mô lớn. Nông thôn Việt Nam ở mỗi vùng miền có những đặc trưng khác nhau về điều kiện tự nhiên nên sự phát triển kinh tế xã hội cũng có nhiều đặc trưng và định hướng khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát đặc điểm cơ bản của khu vực nông thôn như: Kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn, nhất là về giao thông, các công trình bảo vệ môi trường như hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống quản lý chất thải rắn... chưa được đầu tư tương ứng với mức độ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất, bảo vệ môi trường thôn còn hạn chế; điều kiện tiếp cận với tri thức mới, cập nhật thông tin của người dân nông thôn cũng còn nhiều hạn chế dẫn đến ý thức bảo vệ môi trường và ý thức chấp hành pháp luật của người nông dân chưa cao; mức thu nhập thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, xã hội nông thôn cũng rất đa dạng về điều kiện kinh tế xã hội, đa dạng về trình độ tổ chức quản lý, đa dạng về quy mô và mức độ phát triển, tính đa dạng đó không chỉ khác biệt với đô thị mà ngay cả giữa các vùng nông thôn cũng có sự khác nhau... Bên cạnh đó, mặt bằng trình độ của cán bộ quản lý cấp xã không đồng đều, còn hạn chế về nhận thức và chuyên môn quản lý, số lượng cán bộ chủ chốt cấp xã có chuyên môn về lý luận chính trị và quản lý nhà nước trình độ từ đại học trở lên còn thấp, thậm chí có nhiều cán bộ chủ chốt cấp xã không được đào tạo chuyên môn về lý luận chính trị và quản lý nhà nước, dẫn đến hiệu quả công tác quản lý của địa phương chưa đạt hiệu quả cao, còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập do không đủ trình độ, năng lực quản lý.

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường khu vực nông thôn thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên thực tiễn công tác này vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn. Nhiều vấn đề môi trường bức xúc tại khu vực nông thôn phát sinh cùng với quá trình công nghiệp hóa đối với khu vực này. Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trường, phân bón tràn lan trong canh tác nông nghiệp, phế phụ phẩm nông nghiệp không được xử lý triệt để đã đẫn đến ô nhiễm thực phẩm, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Quá trình phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản làm phát thải lượng lớn chất thải rắn, bùn thải, nước thải có chứa kháng sinh, dư lượng chất kích thích sinh trưởng, mầm bệnh... Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề tại địa bàn khu vực nông thôn gây những áp lực lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Theo thống kê, cả nước hiện có 1.748 làng nghề (dựa theo tiêu chí của Chính phủ) tập trung chủ yếu tại khu vực nông thôn với các loại hình như: Tái chế (giấy, nhựa, chì, sắt thép...); sản xuất thực phẩm; thuộc da; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm... Các làng nghề sản xuất dựa trên kinh nghiệm, truyền thống với nguồn vốn, khoa học công nghệ hạn chế là nguyên nhân dẫ đến tình trạng ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất. Điển hình như: Làng nghề tái chế Dương Ổ và làng Phúc Lâm tại xã Phong Khê, huyện Yên Phong, Bắc Ninh; làng nghề gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội); làng nghề tái chế chì tại xã Chỉ Đạo, Văn Lâm , Hưng Yên... Đánh giá chất lượng môi trường khu vực nông thôn cho thấy, môi trường không khí khu vực nông thôn chủ yếu bị ảnh hưởng bởi một số hoạt động làng nghề, điểm công nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, các cơ sở sản xuất, các trang trại chăn nuôi tập trung, khai thác khoáng sản ở các vùng lân cận, chôn lấp và đốt chất thải sinh hoạt... Ô nhiễm nguồn nước tại địa bàn nông thôn đang ở mức báo động, nguồn ô nhiễm xuất phát từ hoạt động làng nghề, trang trại chăn nuôi tập trung, nước thải từ các nhà máy xây gần vùng nguyên liệu (chế biến thủy sản, chế biến nông sản..) sinh hoạt của người dân nhưng không được xử lý. Sự suy giảm nhanh chóng của chất lượng môi trường khu vực nông thôn đã tác động đến sức khỏe người dân, làm gia tăng tỉ lệ bệnh tật, suy giảm chất lượng cuộc sống, tác động trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững đất nước. 

Thực trạng môi trường nông thôn nêu trên đã đặt ra những nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng có liên quan như ngành Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp... trong quản lý, bảo vệ môi trường. Trong đó, lực lượng Cảnh sát môi trường với vai trò chuyên trách, chủ công trong phòng, chống tội phạm và vi phạm hành chính về môi trường trong thời gian qua luôn xác định khu vực nông thôn là địa bàn trọng điểm để phòng ngừa, đấu tranh. Giai đoạn 2010 - 2015, Cảnh sát môi trường đã phát hiện đã phát hiện 62.989 vụ vi phạm với 65.000 đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường  khởi tố và đề nghị khởi tố là 1.380 vụ với 1.996 đối tượng, xử lý hành chính với 15.844 cá nhân, 11.018 tổ chức, xử phạt và truy thu phí môi trường là 526,29 tỷ đồng. Đối với khu vực nông thôn, vi phạm phổ biển là: Xả thải gây ô nhiễm môi trường; vi phạm các quy định về quản lý chất thải; vi phạm các quy định về lập, thực hiện cam kết bảo vệ môi trường; sử dụng hoát chất, phân bón ngoài danh mục cho phép theo quy định; sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản... Công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường đã góp phần nâng cao chất lượng môi trường, đảm bảo an ninh trật tự trên lĩnh vực môi trường tại khu vực nông thôn.

Có thể thấy, thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn thời gian vừa qua xuất phát từ một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cơ bản như các khu vực này thường có lượng dân số lớn, tập trung nhiều loại hình sản xuất đa dạng nhưng chủ yếu gắn với kinh nghiệm, truyền thống, nguồn vốn và trang bị khoa học kỹ thuật công nghệ thấp... dẫn đến tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường còn diễn ra phổ biến; nhận thức của người dân tại khu vực nông thôn vê môi trường, bảo vệ môi trường, phát luật về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế. Đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường. Bên cạnh đó, công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt quá trình xây dựng nông thôn mới tiêu chí về môi trường, bảo vệ môi trường chưa thật sự được quan tâm, chú trọng. Nguồn kinh phí, nguồn lực về con người, trang bị khoa học công nghệ phục vụ cải tiến hệ thống sản xuất, đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, yếu kém...

Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ môi trường nông thôn hướng đến mục tiêu phát triển bền vững khu vực này, cần tập trung, nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tăng cường và tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động quần chúng nhân dân, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ tại địa bàn khu vực nông thôn nâng co nhận thức về bảo vệ môi trường, ý thức thực hiện, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề... Phát động các phong trào bảo vệ môi trường và tích cực tham gia vào hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với những vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn nông thôn.

Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, các đơn vị chức năng làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; rà soát các quy định hiện hành để bổ sung, sửa đổi, khắc phục các sơ hở thiếu sót, tồn tại, bất cập trong bảo vệ môi trường nông thôn. Trong đó cần tập trung đối với nhóm các quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, quản lý hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón, chất kích thích sinh trường, hóa chất sử dụng trong chăn nuôi.

Ba là, tập trung giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở khu vực nông thôn. Tăng cường đầu tư nguồn vốn để đổi mới, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh tại khu vực nông thôn; đổi mới công nghệ sản xuất, đấu tư hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt nông thôn. Giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tại các điểm tồn lưu ô nhiễm ở khu vực nông thôn. Đặc biệt quá trình đầu tư, xây dựng nông thôn mới cần đảm bảo các tiêu chí về bảo vệ môi trường.

Bốn là, xử lý triệt để chất thải rắn, nước thải chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản từ các hộ chăn nuôi cá thể, các trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tại khu vực nông thôn bằng mô hình xử lý sinh học kết hợp sử dụng khí sinh học trong sinh hoạt tại các hộ gia đình, trang trại chăn nuôi. Bên cạnh đó cần quản lý chặt chẽ hoạt động sử dụng hóa chất, chất cấm, chất kích thích sinh trường, kháng sinh trong chăn nuôi thông qua kiểm soát, đánh giá chất lượng sản phẩm.

Năm là, lực lượng Cảnh sát môi trường cần tập trung làm tốt các mặt công tác trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên tại địa bàn khu vực nông thôn. Trong đó cần tập trung phòng, chống các hành vi vi phạm phổ biến về quản lý chất thải, xả thải gây ô nhiễm môi trường, vi phạm các quy định về sử dụng hóa chất, chất cấm, kháng sinh trong sản xuất nông nghiệp nói chung, nhất là tại các cơ sở sản xuất kinh doanh tại các làng nghề, trang trại chăn nuôi, cơ sở kinh doanh phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y.

Trung tá Nguyễn Văn Thắng - Phó trưởng phòng 5

Cục Cảnh sát môi trường - Bộ Công an


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014 (Chuyên đề Môi trường nông thôn);

2. Chính phủ, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020; 

3. Cục Cảnh sát môi trường, Báo cáo tổng kết tình hình và công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường (2010 - 2015);

4. Quốc hội, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi