Thứ Tư, 8/12/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số khó khăn trong điều tra, xét xử các vụ án xâm hại tình dục trẻ em

Thời gian gần đây, liên tiếp các vụ xâm hại tình dục trẻ em bị phanh phui, bởi gia đình các bé không thể im lặng trước tội ác đáng kinh sợ này. Nhiều cơ quan báo chí đã vào cuộc để tìm chân lý.

Ngày 13/3/2017, văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án bé gái 8 tuổi bị xâm hại ở quận Hoàng Mai. Đối tượng, bị khởi tố về hành vi dâm ô với trẻ em là Cao Mạnh Hùng, 34 tuổi, trú tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình đã yêu cầu các cơ quan chức năng phải sớm điều tra làm rõ vụ việc này.

Trước đó, một bé gái ở chung cư LakeSide thành phố Vũng Tàu đã bị một đối tượng 76 tuổi thực hiện hành vi dâm ô. Điều đáng nói là mẹ cháu bé đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan chức năng hơn nửa năm nhưng sự việc vẫn chưa được giải quyết. Ngày 12/3/2017, chủ tịch nước Trần đại Quang đã yêu cầu các bộ, ngành vào cuộc quyết liệt để điều tra làm rõ vụ việc, sớm đưa ra kết luận.

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng của các vụ án xâm hại tình dục là các vụ án xâm danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ nên trong quá trình giải quyết các loại vụ án này có những khó khăn nhất định, cụ thể là:

Thứ nhất, khi xảy ra hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em, để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội danh gì thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội và sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội gì trong các tội xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em (từ Điều 111 đến Điều 116 Bộ luật hình sự). Trên thực tế, có nhiều vụ xâm hại tình dục đối với trẻ em nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng vì vậy, đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết.

Bên cạnh đó, Công tác giám định về xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em còn nhiều hạn chế và tại Luật Giám định tư pháp được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 đã không quy định việc trưng cầu giám định pháp y về xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em là loại đặc biệt, phải được thực hiện nhanh để xác định thủ phạm, vì vậy đã gây nhiều khó khan trong quá trình tìm ra chứng cứ. Như vậy, nếu trẻ em bị xâm hại tình dục mà bị phát hiện chậm hoặc đưa đi giám định không kịp thời sẽ thiếu mất bằng chứng quan trọng để xác định người phạm tội cũng như gây khó khăn cho công tác xét xử của các Tòa án.

Thứ hai, khó khăn phát sinh từ phía người bị hại, trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với họ. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện, vì vậy đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.

Thứ ba, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một trong những biện pháp hết sức hữu hiệu để ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm và các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên, các vụ án xâm hại tình dục là các vụ án nhạy cảm (đặc biệt là các vụ án mà người bị hại là trẻ em gái) thì người bị hại thường có tâm lý e ngại, không muốn vụ việc được đưa ra xét xử công khai do vấn đề tâm lý sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm. Do vậy, các vụ án xâm hại tình dục trẻ em ít được đưa ra xét xử lưu động công khai, trong khi đó có nhiều vụ việc cần được đưa ra xét xử lưu động công khai nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và răn đe, ngăn chặn và hạn chế các hành vi vi phạm và tội phạm tương tự xảy ra.

Thứ tư, nhận thức pháp luật của một số người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Nhiều người chưa nhận thức được hành vi họ đã thực hiện là vi phạm pháp luật hoặc danh dự, nhân phẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giao cấu với trẻ em. Việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội chưa triệt để, một số trường hợp hai bên còn che giấu, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ năm, trong một số vụ án, việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là trẻ em hay không. Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh. Hoặc trong một số trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.

Thời gian tới, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xét xử các vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nói riêng, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Tòa án nhân dân, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan hữu quan khác để thu thập chứng cứ và hoàn thiện hồ sơ vụ án, xét xử đúng người, đúng tội.

Mặt khác, đối với các bậc phụ huynh, để con cái mình không bao giờ là nạn nhân của những kẻ xâm hại, hơn bao giờ hết, các bậc phụ huynh cần quan tâm hơn nữa đến con em mình. Thường xuyên dạy con trẻ kỹ năng tự vệ, phản xạ khi người khác có hành động động chạm vào cơ thể mình. Trên thực tế, sẽ khó khăn cho các bậc cha mẹ mỗi khi dạy con các kỹ năng phòng vệ cho bản thân. Các con có thể e dè, ngại ngùng, nhưng dẫu khó thì chúng ta vẫn phải kiên trì chỉ bảo cho con. Bởi nếu điều không may xảy ra, con em chúng ta sẽ chấn động tâm lý, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh sau này. Hơn bao giờ hết, mỗi người lớn hãy chung tay phòng ngừa loại tội phạm này để giữ gìn một xã hội văn minh.

Hồ Thị Thu Hiền - Tạp chí CSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác