Thứ Sáu, 21/1/2022
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Hiện trạng và các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên hệ thống đường bộ cao tốc

Hiện trạng công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ cao tốc

a) Tổng quan hệ thống đường bộ cao tốc
Hệ thống ĐBCT đang khai thác gồm 13 tuyến, đoạn tuyến với tổng chiều dài 745 km, chiếm 0,23 % tổng chiều dài mạng đường bộ cả nước.

Bảng 1. Các tuyến, đoạn tuyến ĐBCT đang khai thác

TT

Tuyến

Thời điểm khai thác

Chiều dài (km)

Hình thức đầu tư

Đơn vị Quản lý khai thác

1

Đà Lạt - Liên Khương

7/2008

19

BOT

Cty Hùng Phát

2

TP.Hồ Chí Minh -Trung Lương

02/2010

40

NSNN

CQLĐBCT

3

Láng - Hoà Lạc

10/2010

30

NSNN

Sở GTVT Hà Nội

4

Cầu Giẽ - Ninh Bình

7/2012

50

NSNN+#

VEC

5

Mai Dịch - Thanh Trì (VĐ3)

10/2012

28

NSNN

Sở GTVT Hà Nội

6

HN - Thái Nguyên (QL3 mới)

01/2014

64

NSNN

Cục QL ĐB1

7

Nội Bài - Lào Cai (Bát Xát)

9/2014

245

NSNN+#

VEC

8

Nội Bài - Nhật Tân

01/2015

15

NSNN

Sở GTVT Hà Nội

9

HCM - Long Thành - Dầu Giây

02/2015

55

NSNN+#

VEC

10

Lào Cai – Cầu Kim Thành

5/2015

19

NSNN

Sở GTVT Lào Cai

11

Pháp Vân - Cầu Giẽ

9/2015

29

BOT

Cty BOT PV-CG

12

Hà Nội - Hải Phòng

12/2015

105

BOT

VIDIFI

13

Hà Nội - Bắc Giang

01/2016

46

BOT

Cty BOT HN-BG

 Nguồn: Cục QLĐBCT - Tổng Cục đường bộ Việt Nam

Hiện đang có 08 tuyến, đoạn tuyến đang được đầu tư xây dựng với tổng chiều dài khoảng 472 km. Chi tiết tại Bảng 2.

Bảng 2. Các tuyến, đoạn tuyến ĐBCT đang được đầu tư xây dựng

TT

Tuyến

Thời điểm khởi công

Chiều dài (km)

Hình thức đầu tư

Tổng mức đầu tư dự kiến

(tỷ đồng)

1

Đà Nẵng - Quảng Ngãi

05/2013

131

NSNN+#

27.968

2

Huế (La Sơn) - Đà Nẵng (Túy Loan)

12/2013

77

BT

11.500

3

Hòa Lạc - Hòa Bình

05/2014

32

BOT

9.940

4

Bến Lức - Long Thành

07/2014

58

NSNN

31.320

5

Thái Nguyên - Chợ Mới

09/2014

40

BOT

2.746

6

Quảng Ninh – Hải Phòng

09/2014

25

BOT

14.000

7

Trung Lương – Mỹ Thuận

02/2015

51

BOT

17.000

8

Bắc Giang – Lạng Sơn

07/2015

58

BOT

12.000

Nguồn: Cục QLĐBCT - Tổng Cục đường bộ Việt Nam

Ngày 01/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 326/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng ĐBCT Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Theo Quy hoạch, tổng mạng ĐBCT gồm 21 tuyến với tổng chiều dài 6.411 km. Trong đó tuyến cao tốc Bắc Nam gồm 02 tuyến, tổng chiều dài 3.083 km; tuyến cao tốc khu vực phía Bắc gồm 14 tuyến, tổng chiều dài 1.368 km; tuyến cao tốc khu vực miền Trung và Tây Nguyên gồm 03 tuyến, tổng chiều dài 264 km; tuyến cao tốc khu vực phía Nam gồm 07 tuyến, tổng chiều dài 983 km. Ngoài ra còn có hệ thống đường vành đai của thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

 Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương

b) Tai nạn giao thông
Trên ĐBCT, năm 2015 xảy ra 407 vụ va chạm và TNGT, làm chết 35 người, bị thương 178 người. 03 tháng đầu năm 2016, xảy ra 245 vụ va chạm và TNGT (trong đó có 160 vụ va chạm giao thông), làm chết 5 người và bị thương 36 người.
ĐBCT sau khi đưa vào khai thác thường xảy ra nhiều TNGT hơn các đoạn đã khai thác được một thời gian. Các đoạn cao tốc hay xảy ra TNGT năm 2015 như: Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương xảy ra 44 vụ TNGT (giảm 16 vụ so với năm 2014), làm 4 người chết  (giảm 9 người); Nội Bài - Lào Cai xảy 203 vụ TNGT (tăng 98 vụ so với năm 2014), làm 22 người chết (tăng 15 người) và 75 người bị thương; Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây xảy ra 82 vụ TNGT, làm 2 người chết và 43 người bị thương; Pháp Vân - Cầu Giẽ xảy ra 47 vụ va chạm giao thông, 44 vụ TNGT ít nghiêm trọng và 4 vụ tai nạn nghiêm trọng, làm chết 02 người và bị thương 04 người.
Nhìn chung, TNGT trên ĐBCT chiếm tỷ lệ còn ít so với đường quốc lộ nhưng mức độ nghiêm trọng của các vụ tai nạn thường rất lớn.
Xét thời gian xảy ra TNGT trên ĐBCT nhiều nhất là từ 12h-18h, chiếm khoảng 37% tổng số vụ TNGT; tiếp đến là từ 18h-24h, chiếm khoảng 27%. Đối tượng bị TNGT là nam giới chiếm khoảng 85%, nữ giới chiếm khoảng 15%. Đối tượng bị TNGT có độ tuổi từ 20 tuổi đến 59 tuổi chiếm trên 80%, đối tượng trên 60 tuổi chiếm khoảng 8%.
Phân tích số liệu TNGT trên ĐBCT, nguyên nhân chủ yếu do ý thức người điều khiển phương tiện, chiếm trên 80% như: ngủ gật (chiếm khoảng 4%), mất lái (chiếm khoảng 15%), vượt sai quy định (khoảng 19%), không giữ khoảng cách an toàn (khoảng 10%), không làm chủ tốc độ (khoảng 14%). Nguyên nhân do phương tiện (chiếm khoảng 18%) chủ yếu là do nổ lốp, hỏng hệ thống điện, chết máy; do điều kiện kết cấu hạ tầng (chiếm khoảng 1%). 
Nhìn chung, nguyên nhân chính gây ra TNGT trên ĐBCT là do ý thức của người tham gia giao thông. Lái xe chưa nghiêm chỉnh chấp hành các quy định khi lưu thông trên ĐBCT. Bên cạnh đó tình trạng xe mô tô, xe gắn máy, người đi bộ lưu thông trên các tuyến ĐBCT cũng là nguyên nhân gây TNGT.
c) Công tác quản lý nhà nước 
Ban hành các văn bản pháp luật: một số các văn bản đã được ban hành như: Nghị định số 32/2014/NĐ-CP ngày 22/04/2014 của Chính phủ về quản lý khai thác và bảo trì công trình ĐBCT; Thông tư số 90/2014/TT-BGTVT ngày 31/12/2014 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 32/2014/NĐ-CP; Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung TTKS giao thông đường bộ của CSGT và Thông tư số 03/2016/TT-BCA quy định về quy trình TTKS, xử lý vi phạm hành chính trên ĐBCT của CSGT... Nhìn chung, công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về TTATGT trên ĐBCT trong thời gian qua đã được Chính phủ, Bộ GTVT, Bộ Công an, Bộ Y tế và UBND các tỉnh, thành phố có đường cao tốc đi qua quan tâm thực hiện, trong đó có những văn bản quan trọng nhằm tăng cường bảo đảm ATGT. Tuy nhiên, còn có một số tồn tại hạn chế như: công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATGT trên ĐBCT còn chậm, chưa ban hành hướng dẫn đảm bảo ATGT khi thực hiện công tác quản lý, bảo trì trên ĐBCT; Định mức bảo dưỡng ĐBCT; Quy chế phối hợp xử lý, bảo đảm TTATGT và xử lý tai nạn, sự cố trên ĐBCT; Tiêu chuẩn ITS…
Cơ cấu tổ chức, quản lý, khai thác ĐBCT: Bộ GTVT chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về ĐBCT. Tổng cục đường bộ Việt Nam thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ GTVT quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về GTVT đường bộ trong phạm vi cả nước. Cục Quản lý ĐBCT là đơn vị trực thuộc Tổng cục đường bộ Việt Nam, thực hiện chức năng tham mưu cho Tổng Cục trưởng thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước chuyên ngành về ĐBCT. Bộ Công an (Cục CSGT) phối hợp với Bộ GTVT và các Bộ, ngành liên quan ban hành quy định và tổ chức thực hiện việc tuần tra, điều tiết giao thông khi xử lý tai nạn và xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ. UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thực hiện quản lý đối với hoạt động bảo trì ĐBCTtrong phạm vi quản lý.
Hiện tại, đang tồn tại ba chủ thể quản lý, khai thác ĐBCT: Tổng cục đường bộ Việt Nam (Cục QLĐBCT, Cục QLĐB I); UBND cấp tỉnh (Sở GTVT Hà Nội, Lào Cai); và các nhà đầu tư, quản lý, khai thác (VEC, BOT Pháp Vân – Cầu Giẽ, VIDIFI, BOT Hà Nội – Bắc Giang .v.v.). Nhìn chung, sự phối hợp và quả lý chung còn tồn tại nhiều bất cập và kém hiệu quả.
d) Kết cấu hạ tầng giao thông
Trong tổng số 745 km ĐBCT đang khai thác có 141 km ĐBCT hạn chế 02 làn xe (chiếm 18,96%); cao tốc 04 làn xe có 442 km (chiếm 59,45%) và cao tốc 06 làn xe có 160,483 km (chiếm 21,58%).
Hệ thống Trạm dừng nghỉ và Trạm dịch vụ: Hiện tại trên toàn bộ 13 tuyến ĐBCT đang khai thác có 10 trạm dịch vụ, các trạm dịch vụ đang hoạt động là nơi cho lái xe, hành khách dừng nghỉ, đổ nhiên liệu và dịch vụ kiểm tra kỹ thuật… Các trạm dừng nghỉ hiện nay phần lớn đầu tư chưa đồng bộ vẫn còn chưa nhiều dịch vụ. Có tuyến tuy đã đưa vào khai thác sử dụng tuy nhiên vẫn chưa xây dựng các trạm dừng nghỉ và trạm dịch vụ (như tuyến Hà Nội - Hải Phòng).
Trạm thu phí: Hiện có 32 trạm thu phí trên 13 tuyến ĐBCT đang khai thác. Thu phí trên các tuyến ĐBCT hầu hết là thu phí thủ công hai dừng. Đang triển khai thu phí không dừng (ETC) trên một số tuyến (Pháp Vân - Cầu Giẽ…). Tại các điểm vào trạm thu phí hiện nay một số tuyến đã lắp đặt hệ thống cân tải trọng nhằm kiểm soát phương tiện quá tải. 
Hệ thống biển báo hiệu: Hệ thống biển báo hiệu trên một số tuyến ĐBCT đang khai thác được lắp đặt đầy đủ theo đúng quy định hiện hành, bao gồm cả các biển báo VMS tích hợp với hệ thống ITS giúp người tham gia giao thông biết những thông tin về ATGT. Tuy nhiên một số tuyến hệ thống biển báo còn bất cập vì trước đây được thực hiện theo quy định 22-TCN-237-01. Tại một số vị trí đường nhánh, nút giao chưa bố trí đầy đủ thiết bị ATGT, biển báo hướng dẫn theo QCVN 41:2016/BGTVT.
Hệ thống rào chắn và hàng lang ATGT: trên một số tuyến người dân phá dỡ rào chắn để đón trả khách, đi xe mô tô, bán hàng, chăn thả gia súc, gia cầm… gây mất ATGT; tuyến Nội Bài - Lào Cai có 181 điểm mở rào để kinh doanh hàng quán, đổ nước mui, xây nhà trong phạm vi hành lang ATGT đường bộ.
Hệ thống hạ tầng phục vụ dân sinh: Hệ thống này bao gồm đường gom, hầm chui dân sinh trên nhiều tuyến ĐBCT vẫn chưa được hoàn thiện (tuyến Nội Bài - Lào Cai, Hà Nội - Bắc Giang…) nhưng chủ đầu tư các tuyến đã đưa vào khai thác gây ra một số bất cập trong công tác bảo đảm ATGT như người dân cắt rào, đi xe mô tô, xe gắn máy vào ĐBCT, đi bộ qua đường trên đường cao tốc.
Ứng dụng công nghệ giao thông thông minh (ITS) quản lý khai thác các tuyến ĐBCT: Việc ứng dựng hệ thống ITS trong quản lý ĐBCT đã được thực hiện trên 05 tuyến ĐBCT đang khai thác. Do hiện nay đang thiếu một bộ tiêu chuẩn về cấu trúc hệ thống ITS quốc gia nên việc triển khai hệ thống này của các nhà đầu tư không thống nhất. Hệ thống ITS hiện nay mới chỉ có các chức năng đơn giản là kiểm soát giao thông bằng hình ảnh, bảo vệ tài sản của nhà đầu tư mà chưa có các chức năng thông minh như điều tiết giao thông tuyến: ETC, VSL... Camera quan sát giao thông không sử dụng để xử phạt vi phạm được, do đó tồn tại song song hệ thống camera xử phạt của CSGT.
Công tác thẩm định, thẩm tra ATGT: Trong tổng số 13 tuyến ĐBCT hiện nay mới có 04 tuyến được thẩm định ATGT trong giai đoạn thiết kế, 02 tuyến được thẩm định trước khi đưa vào khai thác.
đ) Tổ chức vận tải
Hoạt động vận tải hành khách: Một trong những bất cập hiện nay là việc nhiều phương tiện vận tải hành khách của các công ty vận tải, hợp tác xã vận tải, đón trả khách tùy tiện trên ĐBCT gây mất ATGT nghiêm trọng, điển hình trên tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai (tồn tại 16 điểm nóng) và tuyến Pháp Vân - Cầu Giẽ. 
Hoạt động vận tải hàng hóa: Vẫn còn tình trạng xe quá tải và xe quá khổ lưu thông trên các tuyến ĐBCT. Nhiều phương tiện dừng đỗ tùy tiện trên ĐBCT để dừng nghỉ tại các hàng quán mở trái phép. 
e) Tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên đường bộ cao tốc
Trong năm 2015, lực lượng CSGT đã bố trí, tăng cường hơn 9.000 ca TTKS, phát hiện xử lý 18.361 trường hợp vi phạm pháp luật về TTATGT, ra quyết định xử phạt và thu, nộp kho bạc Nhà nước 19,8 tỷ đồng, tước 2.426 GPLX, tạm giữ 33 phương tiện. Trong đó, đã xử lý 6.171 trường hợp quá tốc độ quy định (34%), dừng đỗ không đúng quy định 3.305 trường hợp (18,2%), xe môtô đi vào ĐBCT 1.408 trường hợp (7,7%), 996 trường hợp vi phạm quá tải trọng (chiếm 5,4%), hạ tải 820 trường hợp với  2.417 tấn hàng, tiền nộp kho bạc nhà nước trên 2 tỷ đồng.
f) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên đường bộ cao tốc
Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TTATGT trên ĐBCT đã và đang được Bộ GTVT, Tổng cục đường bộ Việt Nam, các nhà đầu tư, quản lý, khai thác và Ban ATGT các tỉnh triển khai thực hiện. Tuy nhiên những nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền trên tuyến, trên phương tiện thông tin đại chúng và tại các khu vực dân cư sống xung quanh tuyến cao tốc vẫn còn nhiều hạn chế, chủ yếu mới chỉ được lồng ghép trong nội dung tuyên truyền chung về ATGT đường bộ.
Một số tồn tại, bất cập trong công tác tuyên truyền ATGT trên ĐBCT:
- Các hình thức tuyên truyền trên tuyến chỉ chủ yếu là phát tờ rơi và tài liệu như “Cẩm nang lái xe ô tô an toàn” tại các trạm thu phí. “Cẩm nang lái xe ô tô an toàn” là tài liệu tuyên truyền được dùng chung cho lái xe, không phải là tài liệu tuyên truyền riêng cho lái xe trên ĐBCT;
- Tại các trạm dừng nghỉ trên các tuyến cao tốc chưa có băng rôn, khẩu hiệu, pano, áp phích về tuyên truyền ATGT trên ĐBCT;
- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng về bảo đảm TTATGT trên tuyến ĐBCT còn rất hạn chế, mới chỉ tập trung thông tin về tình hình ATGT trên các tuyến cao tốc hiện tại. Chưa có kênh phát thanh riêng tuyên truyền ATGT trên ĐBCT;
- Dù đã được tuyên truyền, vận động nhưng tình trạng phương tiện vận tải hành khách thường xuyên dừng đỗ, đón trả khách trên ĐBCT, người dân phá hàng rào bán hàng, bán nước mui, trộm cắp tài sản ĐBCT, ném đá vào các phương tiện lưu thông trên ĐBCT... vẫn còn tồn tại.
g) Cứu hộ, cứu nạn giao thông
Hiện nay, các đơn vị quản lý, khai thác tuyến đường ký hợp đồng với các doanh nghiệp, bệnh viện cung cấp dịch vụ cứu hộ, cứu nạn. Về cơ bản đáp ứng thời gian dưới 30 phút theo quy định.
Việc triển khai đề án Tổ chức cấp cứu TNGT trên mạng ĐBCT đến năm 2020 (Quyết định số 1203/QĐ-TTg) còn chậm, hầu như mới có tập huấn.

 

Các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên đường bộ cao tốc

Với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về TTATGT trên ĐBCT; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT cho người lái xe và người dân; tăng cường điều kiện an toàn của kết cấu hạ tầng giao thông nhằm giảm thiểu TNGT, sự cố giao thông, các rủi ro gây TNGT và UTGT trên ĐBCT một cách bền vững, các giải pháp bảo đảm TTATGT trên ĐBCT đến năm 2020 và các năm tiếp theo, bao gồm:
a) Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung 01 Chương trong Luật GTĐB (sửa đổi): Bổ sung thêm 01 Chương quy định về ĐBCT, bao gồm: Quy tắc giao thông trên ĐBCT; Quản lý, khai thác và bảo trì công trình ĐBCT; Quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ khi xảy ra tai nạn, sự cố trên đường cao tốc; Xử lý TNGT trên ĐBCT…
- Sửa đổi Thông tư số 90/2014/TT-BGTVT ngày 31/12/2014 của Bộ trưởng Bộ GTVT hướng dẫn một số nội dung về quản lý, khai thác và bảo trì công trình ĐBCT theo hướng sửa đổi quy định về tuần đường, sửa đổi quy định chỉ sử dụng xe ôtô cho công tác tuần đường; bổ sung quy định chức năng công tác kiểm tra ĐBCT cho cơ quan quản lý ĐBCT; sửa đổi, bổ sung quy định về đảm bảo ATGT trong quá trình thực hiện công tác quản lý, khai thác và bảo trì trên ĐBCT.
- Xây dựng và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia về kiến trúc hệ thống giao thông thông minh, hệ thống thông điệp, dữ liệu giao thông trên ĐBCT, hệ thống thông tin liên lạc giao thông trên ĐBCT, hệ thống camera giám sát giao thông trên ĐBCT và công tác bảo trì ĐBCT.
- Kiện toàn và nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý, vận hành ĐBCT:
Cục Quản lý ĐBCT: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ATGT trên ĐBCT phục vụ công tác quản lý ATGT; xây dựng và ban hành cơ chế báo cáo số liệu, cơ chế chia sẻ dữ liệu; đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện trung tâm điều hành ITS khu vực phía Bắc và phía Nam; bổ sung quy định chức năng công tác kiểm tra ĐBCT cho cơ quan quản lý ĐBCT.
Doanh nghiệp dự án PPP: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các doanh nghiệp dự án PPP với chính quyền địa phương, cơ quan truyền thông và các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng ĐBCT, hành lang ATGT, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT cho người dân, chia sẻ cơ sở dữ liệu ATGT, tổ chức giao thông và kết nối hệ thống giao thông thông minh.
b) Kết cấu hạ tầng giao thông và tổ chức giao thông
- Tiến hành thẩm định ATGT cho tất cả các tuyến ĐBCT đang khai thác; thẩm định ATGT cho các tuyến trước khi đưa vào khai thác; các dự án đang được xây dựng phải được thẩm định ATGT ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công.
- Thường xuyên kiểm tra, sửa chữa bảo đảm độ bằng phẳng và độ nhám mặt đường theo quy định hiện hành.
- Rà soát, bảo đảm tất cả các tuyến ĐBCT có phương án tổ chức giao thông được phê duyệt.
- Xây dựng và lắp đặt hệ thống giao thông thông minh trên các tuyến ĐBCT hiện đang khai thác. Hệ thống phải tích hợp đủ điều kiện cho việc xử lý vi phạm thông qua hình ảnh của CSGT, kể cả trong điều kiện ban đêm.
- Các dự án xây dựng ĐBCT đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải có thiết kế đồng bộ hệ thống giao thông thông minh, các trạm dừng nghỉ, trạm dịch vụ và các trạm cứu hộ, cứu nạn.
- Nghiên cứu áp dụng hệ thống tốc độ giới hạn thay đổi (sử dụng biển báo điện tử thay đổi tốc độ giới hạn tùy theo điều kiện thực tế về đường, thời tiết hoặc các sự cố giao thông); áp dụng chức năng xử lý, cảnh báo từ xa sự cố trên toàn bộ các tuyến ĐBCT, việc đóng làn đường, cảnh báo, hướng dẫn chuyển làn, giảm tốc độ v.v…trong hệ thống giao thông thông minh; bắt đầu vào đường cao tốc phải có một số biển điện tử đặt trên giá long môn cảnh báo những nguy hiểm dẫn đến TNGT (chạy quá tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn, không thắt dây an toàn…). 
- Rà soát lại việc cắm các biển báo giới hạn tốc độ tại trạm thu phí (60 km/h, 80 km/h) trên các tuyến ĐBCT, các biển giới hạn tốc độ tại khu vực vào trạm thu phí phải được đặt trên giá long môn (hoặc cột cần vươn) và đảm bảo cự ly chuyển tốc theo các giá trị giảm dần tốc độ từng cấp 20 km/h.
- Áp dụng hệ thống thu phí không dừng (ETC) trên toàn bộ các tuyến ĐBCT.
- Đối với các dự án xây dựng mới nên xem xét bố trí trạm dịch vụ hai bên đường liên thông bằng hầm chui hoặc cầu vượt; tăng cường các dịch vụ hỗ trợ phương tiện như đổ nước mui, sửa chữa phương tiện hư hỏng v.v… tại các trạm dịch vụ.
- Ứng dụng các trang thiết bị nhằm nâng cao điều kiện an toàn cho kết cấu hạ tầng ĐBCT như lắp đặt các hộp hấp thụ lực (hộp giảm chấn) tại các vị trí dễ gây tai nạn như đường nhánh, đường rẽ...
- Hoàn thiện quy hoạch và xây dựng các đường gom dọc các tuyến ĐBCT và các điểm đấu nối của đường gom vào đường cao tốc.
c) Tổ chức vận tải
- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch GTVT của địa phương kết nối với ĐBCT. Bố trí các điểm dừng đón, trả khách ngoài khu vực các trạm dừng thu phí đường nhánh và tại các nút giao thông. 
- Lắp đặt các trạm cân kiểm soát tải trọng phương tiện tại các điểm vào ĐBCT.
d) Phương tiện giao thông
- Siết chặt công tác kiểm định phương tiện cơ giới đường bộ tại các trung tâm kiểm định. Tăng cường kiểm tra công tác đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ.
- Cảnh báo các lái xe kiểm tra xe đảm bảo an toàn kỹ thuật phương tiện trước khi tham gia giao thông trên ĐBCT.
đ) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự an toàn giao thông
- Tập trung tuyên truyền, phổ biến về kỹ năng lái xe an toàn trên ĐBCT, các quy tắc GTĐB, hệ thống báo hiệu ĐBCT, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, chạy quá tốc độ quy định, giữ khoảng cách an toàn, văn hóa giao thông, cảnh báo những nguy cơ xảy ra TNGT trên ĐBCT và hậu quả của TNGT, xử lý các tình huống nguy hiểm khi tham gia giao thông trên ĐBCT, bảo vệ kết cấu hạ tầng ĐBCT, các hành vi nghiêm cấm như đi bộ, trèo rào, dải phân cách sang ĐBCT, đi xe máy vào ĐBCT, tụ tập bắt xe khách trên đường cao tốc và hướng dẫn sử dụng cầu vượt, hầm chui qua đường.
- Xây dựng website, ứng dụng cho điện thoại thông minh (smartphone) và sử dụng mạng xã hội tuyên truyền, phổ biến về ATGT trên ĐBCT.
- Xây dựng các đoạn phim ngắn, các tiểu phẩm (videoclip) phát trên truyền hình và chiếu tại các sự kiện tuyên truyền; các tiểu phẩm phát trên đài phát thanh; các chuyên mục trên các báo giấy, báo điện tử địa phương và Trung ương.
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT trên ĐBCT lưu động tại các công ty vận tải thương mại, các trạm dừng nghỉ, các bến xe, các bãi xe, các cơ quan, trường học, trong đó chú trọng tập huấn nâng cao kỹ năng lái xe an toàn trên ĐBCT cho các lái xe trong các doanh nghiệp vận tải hành khách và hàng hóa thương mại.
- Sử dụng bảng điện tử trên các giá long môn đặt tại vị trí đầu các tuyến ĐBCT, các đoạn nhập làn vào ĐBCT, tại trạm dừng nghỉ và trạm thu phí nhằm truyền tải các thông điệp về ATGT cho các lái xe.
- Tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT trên ĐBCT vào các dịp ngày Tết, lễ, hội.
- Lồng ghép vào hoạt động sinh hoạt của chi bộ, chính quyền và của các tổ chức đoàn thể địa phương dọc các tuyến ĐBCT các nội dung tuyên truyền về bảo vệ kết cấu hạ tầng ĐBCT, các hành vi nghiêm cấm như: đi bộ, phá rào, trèo rào, trèo dải phân cách sang ĐBCT, đi xe máy vào ĐBCT, tụ tập bắt xe khách, bán hàng trên ĐBCT và hướng dẫn sử dụng cầu vượt, hầm chui qua đường.
- Xây dựng “Sổ tay An toàn giao thông trên đường cao tốc”, bao gồm: các quy định của pháp luật liên quan đến tham gia giao thông trên đường cao tốc, hướng dẫn các kỹ năng lái xe an toàn trên đường cao tốc, ý thức tham gia giao thông trên đường cao tốc và nội dung khác có liên quan.
- Thành lập Kênh phát thanh riêng hoặc lồng ghép với Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) cho ĐBCT với chức năng thông tin, hướng dẫn, tuyên truyền cho người lái xe tham gia giao thông trên ĐBCT.
e) Tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm
- Tăng cường công tác TTKS và xử lý vi phạm đối với phương tiện vận tải hành khách vi phạm quy định về đón, trả khách trên ĐBCT và các phương tiện vi phạm quy định về tải trọng.
- Ứng dụng hệ thống giao thông thông minh cho công tác xử phạt vi phạm bằng hình ảnh. 
- Tổ chức các điểm xử lý vi phạm tại các điểm ra của ĐBCT, tại các trạm dừng nghỉ trên ĐBCT. 
- Quy định chỉ sử dụng xe ôtô cho công tác tuần đường.
- Thực hiện nghiêm quy định xử phạt người đi bộ, xe chở khách đón, trả khách trên ĐBCT.
- Xóa bỏ các điểm đón, trả khách trên ĐBCT đang khai thác.
f) Cứu hộ, cứu nạn
- Yêu cầu các đơn vị quản lý, khai thác các tuyến ĐBCT ký hợp đồng với các đơn vị cung cấp dịch vụ cứu hộ, cứu nạn phải có điều khoản ràng buộc là đơn vị cung cấp dịch vụ phải có phương tiện thường trực 24/24h. Từng bước thành lập các trạm cứu hộ, cứu nạn có trang thiết bị và nhân lực thường xuyên túc trực 24/24h tập trung tại các trạm dừng nghỉ hoặc tại các điểm với cự ly trung bình khoảng 50 km. Trạm này tập trung các lực lượng bao gồm: tuần đường của đơn vị quản lý, khai thác, CSGT, cứu hộ giao thông, cứu nạn, cấp cứu y tế TNGT.
- Rà soát việc lắp đặt các trạm điện thoại cứu hộ, cứu nạn trên đường cao tốc.
- Đẩy mạnh việc thực hiện Đề án Tổ chức cấp cứu TNGT trên mạng ĐBCT đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
g) Nguồn nhân lực
- Đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực về công tác bảo đảm TTATGT trên ĐBCT cho cán bộ thuộc cơ quan quản lý ĐBCT, các đơn vị quản lý, vận hành và khai thác, Ban ATGT cấp tỉnh, Thanh tra giao thông, Cục Quản lý Đường bộ và các doanh nghiệp vận tải hành khách và hàng hóa thương mại…
- Đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên trung tâm điều hành giao thông, lực lượng tuần đường và tuần tra giao thông trên ĐBCT. 
- Thường xuyên tổ chức tập huấn kỹ năng lái xe an toàn trên ĐBCT cho các lái xe trong các công ty vận tải.

Kết luận
Trong những năm qua, hệ thống ĐBCT đã và đang được đầu tư xây dựng và đi vào sử dụng đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, tình hình TTATGT còn diễn biến phức tạp, nhiều vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng xảy ra đòi hỏi phải có các giải pháp trước mắt và lâu dài bảo đảm TTATGT trên hệ thống ĐBCT. 
Các nhóm giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn liên quan đến công tác bảo đảm an toàn giao thông trên ĐBCT; tăng cường năng lực cho cơ quan quản lý ĐBCT; tăng cường ứng dụng hệ thống giao thông thông minh vào hoạt động kiểm soát an toàn giao thông; hoàn thiện các điều kiện an toàn của kết cấu hạ tầng; rà soát, điều chỉnh quy hoạch GTVT của địa phương kết nối với hệ thống ĐBCT; tăng cường kiểm soát tải trọng phương tiện; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tăng cường công tác tuần tra, tuần đường và xây dựng hệ thống cứu hộ, cứu nạn trên ĐBCT.
Nhìn chung, các giải pháp đề xuất tương đối toàn diện song để đi vào thực tế đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm mạnh mẽ của các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư, khai thác tuyến đường và các địa phương có tuyến đường đi qua.

 

ThS. Lê Văn Đạt
Viện Chiến lược và Phát triển GTVT

Tài liệu tham khảo
Viện Chiến lược và Phát triển GTVT (2016), Đề án Xây dựng các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên hệ thống ĐBCT, Hà Nội.



 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác