Thứ Tư, 21/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số giải pháp trước mắt để phòng ngừa tai nạn giao thông đường sắt

Với bề dày lịch sử 133 năm (1888-2016), ngành Đường sắt Việt Nam đã xây dựng được một mạng lưới đường sắt khá hoàn chỉnh từ Bắc tới Nam với chiều dài 3.142 km, trong đó có 2.617 km đường sắt chính tuyến, 2.214 km khổ 1.000mm (84,1%); 161 km khổ 1.435mm (6,1%); 220 km đường lồng 1.000mm và 1.435mm (8,4%); 403 km đường ga, 108 km đường nhánh; phân bổ theo chiều dài đất nước và theo hình xương cá, gồm có 15 tuyến chính và nhánh đi qua 35 tỉnh thành phố (trong đó tuyến Bắc Nam có chiều dài khai thác lớn nhất) trải dài khắp đất nước; có 02 cửa khẩu đường sắt đi Trung Quốc qua tỉnh Lào Cai sang Vân Nam, từ tỉnh Lạng Sơn sang Quảng Tây và hàng chục tuyến đường sắt chuyên dùng phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, ngành Đường sắt Việt Nam cũng đang nỗ lực không ngừng trong việc triển khai các dự án xây dựng những tuyến đường sắt mới, hiện đại hơn. Trong tương lai không xa, những tuyến đường sắt trên cao, đường sắt cao tốc sẽ được xây dựng và đưa vào hoạt động.
Với truyền thống quý báu về đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, của các Bộ, Ngành và các địa phương nên trong thời gian vừa qua, ngành đường sắt đã luôn phát huy vai trò của mình trong việc vận chuyển hành khách và hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Trung bình mỗi năm, ngành đường sắt đã vận chuyển gần 5 triệu lượt khách và trên 4 triệu tấn hàng hóa. Tuy nhiên, so với thực tế thì nó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Ngành. Mặc dù ngành Đường sắt đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhưng những nỗ lực, cố gắng của Ngành vẫn chưa có tính đột phá, tính bền vững chưa cao. Bên cạnh những bất cập, khó khăn trong khâu vận chuyển hành khách, vận chuyển hàng hóa thì trong thời gian vừa qua tình hình TNGT đường sắt đã và đang ở mức đáng báo động, diễn biến không ổn định, có năm giảm về số vụ nhưng lại tăng về số người chết, số người bị thương, hậu quả thiệt hại ở mức cao. Tính trong thời gian từ 2011 đến 6/2016, ở nước ta đã xảy ra  2.458  vụ TNGT đường sắt, làm 1.113 người chết, 1.074 người bị thương...

TNGT đường sắt là mối nguy cơ luôn rình rập

Điều đáng nói ở đây là, theo thống kê của Ủy ban ATGT quốc gia năm 2014 cho thấy, số vụ TNGT đường sắt ở nước ta có xu hướng giảm trên cả 3 tiêu chí là số vụ, số người chết và số người bị thương. Tuy nhiên, đến năm 2015 thì tình hình TNGT đường sắt ở nước ta lại tăng đột biến trên cả ba tiêu chí so với cùng kỳ năm 2014, với 487 vụ (tăng 58,18%), 214 người chết (tăng 53,96%), 43 người bị thương (100%), trong khi tiêu chí năm 2014 của ngành đường sắt đặt ra cho năm 2015 là toàn Ngành phấn đấu giảm về số vụ, số người chết và bị thương.
Qua phân tích nguyên nhân của các vụ TNGT đường sắt cho thấy, hầu hết các vụ TNGT đường sắt hiện nay ở Việt Nam xảy ra là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất: Do ý thức của người tham gia giao thông đường bộ. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra TNGT đường sắt (Tổng Công ty đường sắt nhận định, có khoảng trên 90% các vụ tai nạn là do nguyên nhân khách quan tức là do ý thức của người tham gia giao thông đường bộ gây ra). Hiện tượng người tham gia giao thông và người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đi qua đường ngang, lối đi dân sinh hoặc đi bộ dọc ven đường sắt còn chủ quan, xem nhẹ quy tắc, luật giao thông như: không chú ý quan sát biển báo, tín hiệu tại các đường ngang; không chấp hành hiệu lệnh của nhân viên gác chắn; không làm chủ được tốc độ đâm vào tàu, hoặc đâm vào rào chắn khi rào chắn đã đóng; ngồi chơi trên đường sắt, nằm ngủ trên đường sắt, đặc biệt là để các vật dụng sát đường sắt... Mặc dù các cơ quan chức năng, nhà trường và các tổ chức xã hội đã tuyên truyền, phổ biến về việc chấp hành ATGT đường sắt trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng, trên các diễn đàn về ATGT nhưng ý thức của người tham gia giao thông hay nói cách khác “văn hóa giao thông” của cộng đồng vẫn còn ở mức thấp. 
- Thứ hai:  Hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt còn nhiều bất cập: giao cắt đồng mức đường sắt và đường bộ tồn tại quá nhiều, đặc biệt là đường ngang dân sinh bất hợp pháp. Tính đến tháng 6/2016, trên mạng lưới đường sắt vẫn còn tồn tại khoảng 5.803 đường ngang (trong đó 1.498 đường ngang hợp pháp và 4.305 đường ngang dân sinh bất hợp pháp), tính bình quân khoảng 500m đường sắt có 01 đường ngang. Trên thực tế các vụ TNGT đường sắt chủ yếu xảy ra tại đường ngang dân sinh bất hợp pháp, chiếm tỷ lệ khoảng trên 80% (các đường ngang này do người dân tự ý mở nên hầu hết không có biển báo, đèn hiệu, rào chắn, người canh gác, tầm nhìn tại nhiều đường ngang bị che khuất làm hạn chế tầm nhìn của người điều khiển phương tiện và người tham gia giao thông, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra TNGT). 
- Thứ ba: Còn một số cán bộ công nhân viên của các đơn vị thuộc Tổng Công ty đường sắt không chấp hành nghiêm quy định về TTATGT đường sắt, cụ thể là: công tác kiểm tra, đôn đốc việc chấp hành quy định về điều khiển, vận hành phương tiện đối với các lái tàu chưa sâu sát; công tác chuẩn bị vận hành đối với đầu máy, toa xe chưa chu đáo... cũng là nguyên nhân gây ra các vụ TNGT đường sắt. 
- Thứ tư: Hệ thống giao thông đường sắt của nước ta đã quá cũ nhưng ít được đầu tư nâng cấp (tất cả các đường sắt ở nước ta hiện nay đều là đường sắt một chiều, chưa có hệ thống đường sắt hai chiều đi riêng về riêng như ở các nước khác); các công trình vi phạm hành lang ATGT đường sắt chưa được giải tỏa dứt điểm; hệ thống đường gom, hàng rào đường gom, hàng rào hộ lan giữa đường sắt và đường bộ chạy song song liền kề, hàng rào bảo vệ hành lang đường sắt... chưa được đầu tư xây dựng kịp thời, trong khi đường sắt chạy qua rất nhiều khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp. 
- Thứ năm: Công tác khảo sát, nắm tình hình TTATGT đường sắt của lực lượng CSGT đường bộ-đường sắt chưa được tiến hành thường xuyên, tinh thần trách nhiệm chưa cao.  
Để khắc phục tình trạng TNGT xảy ra trên các tuyến đường sắt, góp phần  bảo đảm TTATGT, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về tính mạng, tài sản của nhà nước và nhân dân, theo tôi, trong thời gian tới lực lượng CSGT đường bộ-đường sắt cần phải thực hiện các công việc, cụ thể như sau: 
- Một là: Tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an, lãnh đạo Bộ GTVT trong việc rà soát, bổ sung, sửa đổi kịp thời các văn bản liên quan đến ATGT đường sắt; Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp về bảo đảm TTATGT đường sắt giữa Bộ Công an với Bộ GTVT, với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đường sắt và chính quyền địa phương. 
- Hai là:  Đổi mới nội dung, phương pháp công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về TTATGT đường sắt cho mọi người dân. Để thực hiện được nội dung này, lực lượng CSGT đường bộ - đường sắt cần tăng cường phối hợp với các cơ quan truyền thông, với các trường học, chính quyền các địa phương nơi có tuyến đường sắt chạy qua bằng các hình ảnh trực quan, phát tờ rơi, xây dựng các vở kịch ngắn...  để mọi người dân nắm vững pháp luật, từ đó có ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông, nhằm xóa bỏ tận gốc các nguy cơ tiềm ẩn và đe dọa đến ATGT nói chung ATGT đường sắt nói riêng. 
- Ba là: Lãnh đạo Bộ Công an cần tiếp tục soát biên chế nhằm nâng cao năng lực cho lực lượng CSGT đường bộ-đường sắt. Trong đó, cần tập trung chỉ đạo đổi mới công tác tổ chức, cán bộ theo hướng bố trí hợp lý theo đúng trình độ, năng lực sở trường, bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, tăng cường về cơ sở; tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ chiến sĩ... Kiên quyết điều chuyển những CBCS không đảm bảo trình độ, năng lực chuyên môn thấp, thiếu tinh thần trách nhiệm. Bên cạnh đó, lãnh đạo Bộ Công an cũng quan tâm hơn nữa đến đời sống, tâm tư, nguyện vọng của CBCS, tăng cường đầu tư kinh phí, trang thiết bị, phương tiện... để họ yên tâm công tác và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
- Bốn là: Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp, cụ thể là: Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định 1856/QĐ-TTg, ngày 27/12/2007 của Chính phủ và Quy chế 929/2006/QC-LN về quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt; Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông; Phối kết hợp với Công an, chính quyền địa phương nơi có tuyến đường sắt chạy qua triển khai nhiều đợt ra quân nhằm bảo đảm TTATGT đường sắt; Thành lập các tổ tuần tra để tăng cường TTKS, cảnh giới tại các đường ngang có lưu lượng phương tiện tham gia giao thông cao, các khu vực đông dân cư, thường xuyên xảy ra tai nạn, các đường ngang không có người gác có nguy cơ mất ATGT đường sắt; Kiên quyết xử lý các trường hợp tự ý lấn chiếm hành lang đường sắt, cố ý mở các đường ngang dân sinh, những trường hợp cố tình vượt qua các đường ngang khi đã có hiệu lệnh dừng. Phối hợp với Tổng Công ty đường sắt trong việc rà soát, đánh giá các điểm, vị trí đường ngang gây mất ATGT; Tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các trường hợp mở đường ngang trái phép hoặc lấn chiếm hành lang ATGT đường sắt, khẩn trương lên phương án sửa chữa, cải tạo, mở rộng các vị trí giao cắt giữa đường bộ - đường sắt, bố trí đầy đủ hệ thống biển báo, rào chắn, đèn tín hiệu… theo quy định; Quy kết, gắn trách nhiệm trong việc đảm bảo và gìn giữ hành lang ATGT đường sắt sau giải tỏa, chống tái lấn chiếm cho các chính quyền địa phương nơi có đường sắt chạy qua.

 

Trung tá, TS Bùi Tiến Sỹ 
Phó Trưởng phòng Quản lý NCKH - T32

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác