Thứ Tư, 21/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Lý thuyết về sự phát triển của tội phạm vị thành niên trong tội phạm học thế giới

Môi trường xã hội đã từ lâu cho rằng có một vai trò to lớn trong việc phát triển các hành vi tội phạm ở người trẻ tuổi. Tuy nhiên, không có một lý thuyết nào giải thích tại sao trẻ em phạm tội, một số nhà lý luật tội phạm học của thế kỹ 20 đã xem xét vai trò của môi trường trong phát triển hành vi phạm tội (Deutschmann, 2005).  Chúng ta cần biết những lý thuyết này vì chúng đã được xử dụng rất nhiều bởi các nhà hoạch định chính sách và ở các trường đại học của Nam Mỹ và Châu âu để xem xét các giải pháp thay thế cho các giải pháp tư pháp hình sự dựa trên cơ sở trừng phạt theo truyền thống đối với những người phạm tội trẻ tuổi. Cần phải lưu ý rằng bối cảnh văn hoá và lịch sử của Việt nam rất khác với Nam Mỹ nơi các lý thuyết này được xây dựng. Vì vậy, những lý thuyết này không phải dành cho vấn đề phạm tội vị thành niên của Việt nam, mà để nhấn mạnh việc nhận biết tác động của hoàn cảnh xã hội tới các hành vi phạm tội vị thành niên.
Nhà lý luận đầu tiên đưa ra lý thuyết về việc môi trường đóng một vai trò như thế nào trong việc phát triển tội phạm là Emile Durkheim người đã phản đối kịch liệt lý thuyết tâm lý về các hành vi lệch chuẩn và tiên phong cho lý thuyết “xã hội học” cho sự lệch chuẩn. Vào nửa đầu thế kỷ, ông đã chỉ một lối sống có thực gọi là “vô tổ chức” nơi các quy định xã hội bị phá vỡ hay lỏng lẻo và mọi người không biết cách gắn kết với nhau hay mong đợi gì ở nhau. Năm 1938, Merton đã từ ý tưởng của Durkeim phát triển nên lý thuyết của sự Căng thẳng. Tại đây ông cho rằng “xung đột” (với pháp luật hay với người nào khác) có thể xuất hiện khi có một sự khác biệt giữa mục tiêu văn hoá và xã  hội và phương tiên để đạt được các mục tiêu này. Ông tin rằng những người không tiếp cận được đến các phương tiên hợp pháp để đạt được các mục tiêu xã hội này sẽ xuất hiện những căng thẳng và có xu hướng sử dụng những phương tiện không hợp pháp hay phạm tội để đạt được các mục tiêu đó. Lý thuyết của Merton là rất có ích bởi vì nó cho chỉ ra rằng mặc dù các cá nhân không có các phương tiện như nhau để đạt được các mục tiêu này, nhưng tất cả chúng lại đều có chung mục đích là phải có được những phương tiện này, những phương tiện đã được xã hội đánh giá cao. Trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin này, trẻ em Việt nam có thể bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá phương tây, một nền văn hoá ca ngợi sự thành công vật chất thông qua phim ảnh và âm nhạc, như vậy mục tiêu của các thanh niên ở Việt nam có thể không khác nhiều so với thanh niên cùng lứa ở các quốc gia khác trên thế giới. Thực tế như vậy làm cho lý thuyết của Merton ban đầu được xây dựng ở Mỹ trở nên có liên quan hơn tại các khu vực có lịch sử và truyền thống văn hoá khác nhau.
Vào những năm 1960, các nhà lý luận cho rằng có những con đường hợp pháp và không hợp pháp để một người có thể đạt được mục tiêu. Bởi vì bất cứ một cá nhân nào cũng không có đủ những phương tiện hợp pháp để đạt được mục tiêu, và cá nhân này cũng có thể không có những phương tiện bất hợp pháp để đạt được các mục tiêu này. Ví dụ, Cloward và Ohlin (1960) đã đề xuất một lý thuyết về tội phạm có tên gọi là lý thuyết cơ hội khác biệt để tổng hợp hai công trình nghiên cứu của Durkheim và Merton. Họ nói tội phạm sẽ nở rộ nếu điều kiện xã hội trong cộng đồng đó cho phép như vậy. Họ tin rằng một vài thành viên trong xã hội được tiếp cận đến những cơ hội hợp pháp (giáo dục, kinh doanh, chính trị), trong khi đó những người khác lại tiếp cận đến những cơ hội bất hợp pháp (tội phạm nhỏ, tội phạm có tổ chức). Hơn nữa, họ còn nói những cộng đồng có những cơ hội bất hợp pháp được tổ chức tốt và chặt chẽ sẽ tạo ra môi trường cho những hành vi phạm tội có tổ chức. Điều này càng trở nên trầm trọng hơn vì các cộng đồng thiếu tổ chức sẽ áp dụng ít những quy tắc xã hội và tạo ra văn hoá cho tội phạm. Lý thuyết cơ hội khác biệt này cũng nêu rằng vị thành niên những người thấy mình không thể đạt được mục tiêu thông qua những phương tiên hợp pháp sẽ cố sử dụng những phương tiên bất hợp pháp. Cloward và Ohlin cho rằng có 3 loại văn hoá tội phạm đó là: Văn hoá tội phạm mà ở đó có những cơ hội ‘học hỏi’ để đạt được mục tiêu tiền bạc một cách bất hợp pháp; văn hoá xung đột khuyến khích bạo hành và văn hoá của những người ẩn dật và ở đó vị thành niên lâm vào trạng thái xâm hại và mất hy vọng. Tất cả 3 dạng văn hoá này đều cần được quan tâm bởi hệ thống tư pháp hình sự. Do những văn hoá này có thể xuất hiện ở một số cộng đồng này nhiều hơn cộng đồng kia, nên sự quan tâm của Cảnh sát và nguồn lực có thể dành cho cộng này nhiều hơn cộng đồng kia. 
Phần trung tâm của lý thuyết kiểm soát xã hội đó là mối quan hệ bên ngoài đối với nhà trường và gia đình, kết hợp với cam kết bên trong đối với những giá trị tập quán và thể chế xã hội sẽ tạo ra một hình thức kiểm soát xã hội, mà hình thức kiểm soát này có thể khiến vị thành niên tham gia hành vi phạm tội. Hành vi của cha mẹ, phong cách sống của cha mẹ, và sự kiểm soát của cha mẹ là yếu tố rất quan trọng để phòng ngừa hay xử lý tội phạm (Coombs & Landsverk, 1988). Sự tham gia của gia đình vào trong các hoạt động của cộng đồng cũng là một yếu tố kiểm soát xã hội quan trọng. Đồng thời sự đổ vỡ của gia đình làm sói mòn sự gắn kết với gia đình và với cả cộng đồng (Cao & Wang, 1993). Từ khía cạnh kiểm soát bên ngoài, sự gắn kết với nhà trường khiến những thanh thiếu niên có thể tham gia vào các hoạt động ngoại khoá lành mạnh và tôn trọng giáo viên (Zimmerman & Apospori, 1993). Không thích học và bỏ học, cũng là một lý do, làm nới lỏng kiểm soát xã hội (Z. Cao & Wang, 1993). Lý thuyết kiểm soát xã hội cũng được đề cập đến ở một vài nghiên cứu. Ví dụ, sự gắn bó với cha mẹ và nhà trường, sự tham gia của gia đình, tôn giáo, và thậm chí đức tin cũng không đảm bảo được hiệu quả mong đợi (Hoffman & Su, 1997).  

 

Gia đình ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành nhân cách của trẻ vị thành niên 

Lý thuyết học từ xã hội cũng cho rằng để tham gia vào tội phạm hay hành vi lệch chuẩn, vị thành niên phải tìm thấy một giá trị trong những hành vi này. Điều này thường xảy ra thông qua mối quan hệ với đồng đẳng có hành vi phạm tội (Akers, 1998). Lý thuyết học từ xã hội tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên có hành vi phạm tội từ những người đồng đẳng và bị chi phối bởi những giải thưởng hay thái độ của bạn bè. Lý thuyết học từ xã hội được hỗ trợ bởi kinh nghiệm thực tế phong phú (Akers, 1998). Giao lưu với bạn bè có hành vi phạm tội là một yếu tố dẫn đến phạm tội vị thành niên (Brook et al., 1997). Các nghiên cứu cũng cho thấy tác động của những kỹ năng học được và hành vi phạm tội của bạn bè đồng lứa đến sự tham gia phạm tội của vị thành niên. Kendall, & Guevremont, 1988). Hơn nữa, các hành vi phạm tội của những người bạn đồng lứa đã chứng mình có dấu hiệu cho những hành vi phạm tội của vị thành niên (Cheung, 1993). 
Một cách tiếp cận khác, một lý thuyết học từ xã hội được xây dựng bởi Edwin Sutherland, cho rằng thông qua mối quan hệ qua lại với các thành viên khác, vị thành niên đã học được những giá trị, thái độ, kỹ thuật và động cơ thực hiện hành vi phạm tội. Lý thuyết này cho rằng, hành vi phạm tội được học qua các giao tiếp xã hội. Trọng tâm ở đây là làm thế nào vị thành niên học để trở thành tội phạm. Sutherland cho rằng, hành vi phạm tội trước hết cũng được học theo đúng cách mà chúng ta được học trong cuộc sống và quan hệ với những người khác là yếu tố quan trọng trong tiến trình học hỏi này. Cũng trong lý thuyết này, những hành vi phạm tội và những giá trị hỗ trợ cho hành vi này được học từ các mối quan hệ với những người khác. Cũng cần lưu ý rằng khi những cá nhân có xu hướng với những hành vi lệch chuẩn và thực hiện những hành vi này, là do họ đã học được những hành vi này mà không biết đến những quy định của xã hội. Lý thuyết về mối quan hệ khác biệt không hạn chế tiến trình học hỏi đối với môi trường tầng lớp thấp. Lý thuyết này giúp giải thích tại sao những hành vi lệch chuẩn và tội phạm lại xuất hiện ở tất cả các tầng lớp. Vì vậy rất có thể những người lớn sống ở tầng lớp trung lưu hoặc thượng lưu lại khuyến khích những hành vi phạm tội của vị thành niên bằng cách làm gương bằng chính những hành vi lệch chuẩn của mình như bạo hành gia đình, xâm phạm tài sản bất hợp pháp và say rượu... 
Lý thuyết dán mác, do Howard Becker đưa ra vào những năm 1960, quan tâm đến việc làm thế nào để tác động (hay tạo ra) cá tính và hành vi của một cá nhân. Qua cách này cá nhân sẽ được nhìn nhận và mô tả (được dán mác) bởi những người khác trong xã hội. Lý thuyết dán mác đã đem lại một thay đổi lớn trong phương pháp tiếp cận của các nhà tội phạm học từ việc tập trung xem xét lệch chuẩn và hành vi của cá nhân sang nghiên cứu phản ứng của xã hội đối với cá nhân và hành vi của họ. Lý thuyết dán mác cho rằng hành vi lệch chuẩn hay tội phạm phần lớn được quyết định bởi những phản ứng xã hội. Hay nói cách khác nếu không có sự phản ứng này thì không có hành vi lệch chuẩn. Một khi hành vi được dán mác là lệch chuẩn thì cá nhân thực hiện hành vi đó cũng được dán mác là lệch chuẩn. Những người có xu hướng quan sát chặt chẽ những người được xác định là lệch chuẩn thì sẽ tìm ra rất nhiều điều lệch chuẩn từ họ. Những hành vi sau này được tạo ra nhanh hơn và mác đó càng được gắn chặt hơn. Một người được dán mác tội phạm trước hết được nhận biết là một tội phạm; những mặt khác không thuộc mác này có thể bị lãng quyên. Một cá nhân có thể bắt đầu chấp nhận mác này như một ý thức cá nhân. Sự chấp nhận mác này tuỳ thuộc vào sức mạnh ý thức của cá nhân và áp lực của tiến trình dán mác. Lý thuyết phát triển nhận thức cho rằng khả năng nhận thức hạn chế sẽ dẫn tới hành vi phạm tội (Galavotti, McCuan, & McAlister, 1990). Lý thuyết này là một dạng lý thuyết tự kiểm soát. Nó yêu cầu cá nhân phải có khả năng kiểm soát sự bốc đồng của mình. Khi cá nhân không có khả năng tự lập luận đầy đủ về sự tán thành hay phản đối tội phạm họ có khả năng lựa chọn hoạt động tội phạm. 

 

Thiếu tướng, PGS, TS. Phạm Ngọc Hà
Chuyên viên Học viện CSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác