Thứ Năm, 29/10/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Trao đổi về một số vướng mắc, bất cập trong các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội

Đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày, đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân. Tuy nhiên, cho đến nay lĩnh vực này mới được điều chỉnh cao nhất ở tầm pháp lệnh với tính chất đưa ra những quy định “khung” đã qua 3 lần thay đổi, sửa đổi, bổ sung (1995, 2002, 2008) và một số nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội. Theo đó, là hệ thống các văn bản pháp luật của hoạt động quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong một số lĩnh vực như: đăng ký, quản lý cư trú, cấp và quản lý chứng minh nhân dân; quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ;… lại liên tục thay đổi cả ở tầm pháp lý cũng như nội dung điều chỉnh. Cộng với sự vận động của tình hình kinh tế, xã hội cũng như những diễn biến phức tạp trên lĩnh vực an ninh, trật tự, đã làm cho một số quy định của các chế tài hành chính bộc lộ những hạn chế nhất định. Ở phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trao đổi về một số khó khăn, vướng mắc của các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an ninh, trật tự rút ra từ thực tiễn thi hành trên một số khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, quy định về các hành vi vi phạm hành chính

- Một số hành vi vi phạm hành chính quy định còn chung chung, không cụ thể, lại chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích nên dễ gây nhầm lẫn, thiếu thống nhất về cách hiểu cũng như trong quá trình áp dụng.

Tại Điều 11, Nghị định 73/2010/NĐ-CP quy định trách nhiệm hành chính đối với “hành vi cho người khác nhập hộ khẩu vào sổ hộ khẩu, chỗ ở của mình để trục lợi hoặc cho nhập hộ khẩu vào cùng một chỗ ở nhưng không bảo đảm diện tích sàn tối thiểu trên đầu người theo quy định; ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động không thuộc doanh nghiệp của mình để nhập hộ khẩu”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý thì thế nào là “nhập hộ khẩu” lại chưa có văn bản nào quy định. Trong khi Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành chỉ sử dụng thống nhất một số thuật ngữ như: đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, tách sổ hộ khẩu,…

Hầu hết đối với các nội dung quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, tại Nghị định 73/2010 đều quy định chế tài hành chính đối với hành vi không chấp hành các quy định khác mà theo pháp luật thì công dân, tổ chức phải có nghĩa vụ thực hiện như: không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú; không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp mới, cấp lại, đổi giấy chứng minh nhân dân; không thực hiện đầy đủ các quy định khác về điều kiện an ninh, trật tự khi hoạt động ngành, nghề kinh doanh có điều kiện;… Tuy nhiên, nếu xem xét sự chặt chẽ và logic thì những chế tài này còn quá thiếu cụ thể nên sẽ gây nên sự thiếu thống nhất và tùy tiện trong quá trình áp dụng.

- Một số hành vi vi phạm hành chính cùng được điều chỉnh khác nhau với những chế tài hành chính khác nhau. Điển hình như sự “vênh nhau” giữa các chế tài hành chính áp dụng đối với cùng một hành vi quy định trong Nghị định 73/2010/NĐ-CP và Nghị định 75/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa. Đơn cử như hành vi “Dung túng, bao che cho các hoạt động có tính chất đồi trụy, khiêu dâm, kích động bạo lực, hoạt động mại dâm, sử dụng ma túy, đánh bạc hoặc “cá độ” được thua bằng tiền hoặc hiện vật tại vũ trường, nơi khiêu vũ công cộng, nhà hàng karaoke và những nơi tổ chức hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng khác” theo Điểm a, Khoản 5, Điều 22, Nghị định 75/2010/NĐ-CP sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, cũng là cơ sở kinh doanh karaoke, vũ trường mà có hành vi “sử dụng cơ sở kinh doanh để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật” hay “Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật” nhưng theo Điểm d và đ, khoản 3, Điều 14, Nghị định 73/2010/NĐ-CP thì chỉ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Như vậy, cùng một hành vi tạo điều kiện cho các hoạt động mại dâm, cờ bạc, ma túy tại các cơ sở kinh doanh karaoke, vũ trường nhưng lại có hai chế tài xử lý khác nhau: từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Hơn nữa, hành vi tạo điều kiện hay tổ chức có tính chất, mức độ nghiêm trọng hơn so với hành vi dung túng, bao che nhưng mức xử phạt lại thấp hơn rất nhiều. Hay cùng một hành vi sử dụng rượu bia, theo Khoản 1, Điều 24, Nghị định 73/2010/NĐ-CP sẽ “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi say rượu, bia ở công sở, nơi làm việc, trong các khách sạn, nhà hàng, quán ăn, trên các phương tiện giao thông và những nơi công cộng”. Nhưng tại Điểm b, Khoản 1, Điều 18, Nghị định 75/2010/NĐ-CP quy định hành vi “Say rượu, bia ở công sở, nơi làm việc, khách sạn, nhà hàng, quán ăn, vũ trường, nơi khiêu vũ công cộng, phòng karaoke, nơi hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa, trên các phương tiện giao thông và những nơi công cộng khác” sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Như vậy, nhìn vào hai quy định trên chúng ta thấy rõ ràng: cùng một hành vi say rượu, bia ở công sở, nơi làm việc, trong các khách sạn,… nhưng có quy định hai chế tài xử phạt tiền với mức khác nhau từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng và từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Vậy trong hai trường hợp trên chủ thể thừa hành pháp luật sẽ áp dụng theo văn bản pháp luật nào? Vấn đề đặt ra ở đây là cả hai văn bản bản này hiện đều đang có hiệu lực thi hành. Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Khoản 3, Điều 83, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2009, “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau”. Mặc dù hai văn bản này đều do Chính phủ ban hành (cùng một cơ quan ban hành), nhưng trong trường hợp này với hai quy định nêu trên có thể được hiểu là “cùng về một vấn đề” hay không? Trong khi một văn bản quy định về xử phạt hành chính trên lĩnh vực an ninh, trật tự - một văn bản quy định về xử phạt hành chính trên lĩnh vực văn hóa. Điều đáng nói, đây đều là hai Nghị định do Chính phủ ban hành ngày 12/7/2010 và cùng có giá trị hiệu lực kể từ ngày 01/9/2010.

- Nhiều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực còn mang tính “nửa vời”, không rõ ràng về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức độ chế tài xử phạt hành chính và quy định tản mạn trong nhiều văn bản.

Đơn cử như quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tố tụng (dân sự, hình sự, hành chính) hiện nay vẫn còn nhiều hành vi vi phạm hành chính chưa được quy định rõ ràng trong văn bản xử lý vi phạm hành chính. Tại Khoản 2, Điều 17, Nghị định 75/2010/NĐ-CP quy định hành vi vi phạm: Vi phạm các quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn; vi phạm nghĩa vụ của người tham gia tố tụng (như cản trở hoạt động xác minh thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra, không thực hiện nghĩa vụ của người làm chứng…); vi phạm quy định về tạm giam, tạm giữ; về thi hành án hình sự; không chấp hành hoặc cản trở việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình hoặc có các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, việc xử phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử lại chưa được quy định trong Nghị định này. Tại khoản 2, Điều 35, Nghị định 76/2006/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp quy định: Cá nhân có “hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ; có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm danh dự người thi hành công vụ hoặc chống lại người thi hành công vụ; xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc chống lại người thi hành công vụ; gây rối, làm mất trật tự hoặc lôi kéo, kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc có hành vi gây rối hoặc cản trở khác gây trở ngại cho các hoạt động trong lĩnh vực tư pháp được áp dụng theo quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Nếu căn cứ theo Điều 17, Nghị định 75/2010/NĐ-CP để xử phạt hành chính các hành vi vi phạm theo tinh thần của Khoản 2, Điều 35, Nghị định 76/2006/NĐ-CP sẽ dẫn đến việc bỏ sót các hành vi vi phạm trong giai đoạn xét xử tại Tòa án, rõ ràng đây là một quy định còn mang tính chất “nửa vời” giữa hai văn bản xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này.

Thứ hai, quy định về trách nhiệm hành chính

Trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh, trật tự bao gồm các hình thức xử phạt (xử phạt chính, xử phạt bổ sung) và các biện pháp khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, hệ thống trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hiện nay trong thực tiễn áp dụng đã gặp phải một số vướng mắc nhất định.

- Đối với hình thức cảnh cáo: Điểm bất cập của việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hiện nay là hiệu quả không cao và mang tính hình thức. Mặc dù, theo Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính, quy định cảnh cáo được quyết định bằng văn bản, tuy nhiên trong thực tế nhiều cơ quan và cán bộ khi xử lý lại áp dụng hình thức nhắc nhở (không ban hành văn bản), hoặc áp dụng xử phạt cảnh cáo nhưng lại đi kèm với hình thức tước quyền sử dụng giấy phép. Trường hợp nhắc nhở nhưng sau đó lại tịch thu hàng hóa, vật phẩm, phương tiện vi phạm. Bên cạnh đó, việc áp dụng cảnh cáo trong mọi trường hợp vi phạm đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn chưa đảm bảo tính nghiêm minh. Trong nhiều trường hợp người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị phạt cảnh cáo nhưng sau đó lại vẫn tiếp tục tái phạm hành vi đó nhiều lần, nhưng cũng chỉ bị xử phạt cao nhất là cảnh cáo. Xuất phát từ hiệu quả áp dụng thấp, có ý kiến cho rằng cần phải quy định lại hình thức phạt cảnh cáo hoặc hủy bỏ hình thức này. Đối với người chưa thành niên, cha mẹ hoặc người giám hộ có thể chịu xử phạt thay để từ đó có biện pháp giáo dục con mình tốt hơn. Hoặc cần bổ sung thêm một số hình thức xử phạt mới để áp dụng phù hợp với người chưa thành niên như: buộc lao động phục vụ cộng đồng, buộc học tập các quy định của pháp luật có liên quan đến vi phạm, giao cha mẹ hoặc người giám hộ giám sát và hòa giải tại cộng đồng.

- Đối với hình thức phạt tiền: điểm bất cập chủ yếu trong quy định phạt tiền hiện nay là tính biến động của giá tiền Việt Nam, cũng như một số mức phạt quy định chưa cao, chưa đảm bảo tính trừng phạt và răn đe. Điều đó dẫn đến tình trạng người vi phạm nộp tiền phạt và vẫn tiếp tục vi phạm. Hình thức phạt tiền theo thủ tục đơn giản hiện nay (đến 200.000 đồng) cũng còn nhiều tranh cãi, vì có ý kiến cho rằng đây là kẽ hở để người vi phạm và cán bộ xử lý thỏa thuận ngầm với nhau áp dụng mức phạt thấp nhất để vừa có lợi đôi bên vừa giảm các thủ tục phiền hà.

Quy định mức tiền phạt tối thiểu và tối đa với khoảng cách quá xa, chẳng hạn trong Nghị định 73/2010/NĐ-CP, tại Điểm c, Khoản 4, Điều 12 quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng giấy chứng minh nhân dân giả; Điểm e, Khoản 4, Điều 13 quy định phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi làm mất vũ khí, công cụ hỗ trợ; Điểm a, Khoản 3, Điều 14 phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi hành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự mà không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự;… Việc quy định như trên gây khó khăn cũng như dồn gánh nặng xử phạt cho Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc cấp Cục. Mặt khác, quy định khoảng cách quá rộng giữa mức tiền phạt tối thiểu và tối đa sẽ tạo cơ hội cho các bên có thể thỏa thuận để đưa ra mức phạt thấp nhất.

Quy định thẩm quyền phạt tiền quá thấp đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ chỉ được phạt đến 200.000 đồng. Nhiều hành vi có thể ra quyết định xử phạt ngay nhưng tại các điều khoản xử phạt lại quy định mức tiền phạt lớn hơn thẩm quyền này, dẫn đến việc quy định chỉ mang tính hình thức. Mặt khác mức phạt tiền tối đa lớn hơn thẩm quyền xử phạt của chủ thể có thẩm quyền quản lý nhà nước dẫn đến sự vô hiệu hóa thẩm quyền này. Chẳng hạn Công an cấp huyện có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh theo phân cấp tại Thông tư 33/2010/TT-BCA, nhưng Trưởng Công an cấp huyện lại không có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi “hành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự mà không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự”.

- Đối với hình thức xử phạt trục xuất: Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính được quy định tại Điểm o Khoản 3 Điều 7 và các Điều 14, 15, 18, 19, 20, 21, 22, 23 của Nghị định 73/2010/NĐ-CP thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay áp dụng hình thức xử phạt này đang gặp khó khăn. Khi Bộ trưởng Bộ Công an hay Cục trưởng Cục quản lí xuất nhập cảnh ra quyết định xử phạt này phải ghi rõ nơi bị trục xuất đến hay chỉ quyết định rời khỏi lãnh thổ. Mặc dù, Điều 7 Nghị định 97/2006/NĐ-CP có quy định trong quyết định trục xuất phải ghi rõ nơi đến nhưng trong thực tế nhiều trường hợp người vi phạm là người không quốc tịch hoặc ví dụ họ là người nước ngoài sang Việt Nam du lịch hay quá cảnh thì cũng chỉ buộc họ rời khỏi lãnh thổ Việt Nam mà cũng không thể buộc họ quay về nước hay cưỡng chế về nước. Hoặc có nhiều trường hợp xác định được nơi họ đến nhưng Chính phủ nước ngoài mang quốc tịch lại không tiếp nhận trục xuất.

Thứ ba, quy định về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh, trật tự.

Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính đã gặp phải một số vướng mắc, bất cập, đặc biệt là ở biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính - một biện pháp liên quan trực tiếp đến quyền của công dân như quyền tự do thân thể, tự do đi lại. Mọi trường hợp tạm giữ người theo thủ tục hành chính đều phải có quyết định của người có thẩm quyền (hoặc cấp phó được ủy quyền bằng văn bản khi người có thẩm quyền vắng mặt). Thực tế để ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính, người thi hành công vụ đã phải khống chế và áp giải ngay người có hành vi vi phạm về trụ sở cơ quan Công an hay Ủy ban nhân dân gần nhất. Như vậy, ngay từ thời điểm chưa có quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì người có hành vi vi phạm đã bị áp dụng một biện pháp ngăn chặn nào đó và đương nhiên bị ảnh hưởng nhất định đến quyền công dân. Theo Khoản 3, Điều 2, Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính ban hành kèm theo Nghị định 162/2004/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 19/2009/NĐ-CP quy định thời hạn tạm giữ được tính kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm. Giả sử trường hợp hành vi vi phạm hành chính được phát hiện bởi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân (người không có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người) nhưng nhận thấy cần áp dụng biện pháp tạm giữ người là cần thiết nên đã bắt giữ, áp giải người vi phạm đến người có thẩm quyền để ra quyết định tạm giữ. Nếu người có thẩm quyền ra quyết định thấy cần cần tạm giữ thì ra quyết định tạm giữ và người vi phạm bị tạm giữ tại nơi tạm giữ. Trong trường hợp này, thời điểm bắt đầu giữ người được quy định như thế nào là điều quan trọng nhất thì pháp luật lại không quy định rõ. Đó có thể là thời điểm người phát hiện hành vi vi phạm hành chính bắt giữ người vi phạm hay có thể là thời điểm người vi phạm thực tế bị tạm giữ tại nơi tạm giữ. Nếu tính thời hạn tạm giữ bắt đầu từ thời điểm người vi phạm bị bắt giữ thì có điểm hợp lí là từ thời điểm đó người bị bắt giữ đã bị hạn chế quyền tự do và việc bắt giữ này có tác dụng ngăn chặn, đình chỉ hành vi vi phạm. Tuy nhiên, nếu tính theo hướng này thì cũng có điểm không hợp lí vì khi chưa có quyết định tạm giữ thì chưa thể thực hiện biện pháp tạm giữ đối với người vi phạm và nếu người bắt giữ cho rằng cần phải tạm giữ nhưng người có thẩm quyền quyết định lại không tạm giữ. Nếu tính thời hạn tạm giữ từ thời điểm người vi phạm bị tạm giữ tại nơi tạm giữ thì hợp lý ở chỗ thời điểm đó mới thực sự là thời điểm bắt đầu thi hành quyết định tạm giữ. Tuy nhiên trên thực tế, người vi phạm đã bị hạn chế tự do ngay từ khi bị bắt giữ. Trường hợp thời gian từ khi bắt giữ đến khi ra quyết định tạm giữ kéo dài do phải dẫn giải người vi phạm đi xa chẳng hạn thì tổng thời gian thực tế người vi phạm bị hạn chế tự do có thể kéo dài hơn thời hạn tạm giữ do pháp luật quy định. Hơn nữa, trường hợp việc tạm giữ chỉ nhằm mục đích ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính thì mục đích này đã đạt được trước khi có quyết định tạm giữ. Cả hai cách tính thời hạn nói trên đều có điểm không thỏa đáng và nếu thời điểm tính thời hạn tạm giữ không được quy định một cách thống nhất thì khó tránh khỏi áp dụng tùy tiện, xâm phạm quyền cơ bản của công dân. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ ràng, hợp lý thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ. Nên chăng, quy định thời hạn tạm giữ tính từ thời điểm thực sự giữ người vi phạm tại nơi tạm giữ và quy đổi thời gian từ khi người vi phạm bị bắt giữ đến khi thực sự tạm giữ về hệ số nhất định. Trong nhiều trường hợp người có hành vi vi phạm hành chính có thể ở xa trung tâm, sẵn sàng bỏ trốn và để lại tang vật, do đó việc bắt giữ và áp giải đến cơ quan có thẩm quyền xử lý là cần thiết, giúp cho việc xử phạt được thực hiện nghiêm túc. Do vậy, theo chúng tôi cần bổ sung biện pháp Áp giải người có hành vi vi phạm hành chính là một trong các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính.

Trên đây là một số trao đổi mang tính chất tham khảo về một số vướng mắc, bất cập về các chế tài hành chính nói chung và trên lĩnh vực an ninh, trật tự xã hội nói riêng. Thiết nghĩ, việc nghiên cứu để hoàn thiện khung pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính là một yêu cầu cần thiết trong tiến trình xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương quản lý hành chính của đất nước, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

ThS. Cù Ngọc Trang - Giảng viên khoa Nghiệp vụ QLHC về TTXH - Học viện CSND

Chu Thị Hạnh - Giảng viên Bộ môn Luật và Nghiệp vụ Công an - T38

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác