Thứ Bảy, 15/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường biển

Việt Nam là một quốc gia ven biển với chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km, trong đó có 28/63 tỉnh, thành phố có biển, là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số cả nước và là địa bàn tập trung chủ yếu các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vực nuôi trồng thủy sản, khu du lịch, cảng biển. Trong những năm qua, cùng với việc khai thác các nguồn lợi từ tài nguyên biển để phát triển kinh tế đất nước, môi trường biển đã và đang ngày càng bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, đe dọa đến sự phát triển bền vững đất nước, đồng thời đặt ra những thác thức đối với công tác quản lý, bảo vệ môi trường (BVMT) biển của các lực lượng chức năng, nhất là lực lượng Cảnh sát môi trường.

Đặc biệt, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, tội phạm về môi trường nói chung, tội phạm và vi phạm pháp luật (VPPL) về môi trường biển nói riêng hoạt động có xu hướng gia tăng và mang tính chất xuyên quốc gia. Hậu quả tác hại của các tội phạm và VPPL về môi trường biển gây ra không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng môi trường mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội của nhân dân.

Vì vậy, hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường môi trường biển là mục tiêu và nhu cầu tất yếu trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát môi trường ở Việt Nam hiện nay. Thông qua hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ, hỗ trợ của các quốc gia trên thế giới, tổ chức quốc tế về kinh nghiệm, phương thức tổ chức, tài chính, khoa học công nghệ, nguồn thông tin nâng cao năng lực cho lực lượng Cảnh sát môi trường. Thông qua các kênh hợp tác khác nhau để ngăn chặn kịp thời các hành vi VPPL về môi trường biển, các tác động xuyên quốc gia đối với môi trường biển Việt Nam.

Nội dung hợp tác quốc tế về môi trường biển được xác định trên cơ sở các quy định pháp lý quốc tế về PCTP môi trường nói chung, BVMT biển nói riêng mà Việt Nam là thành viên. Trong đó có một số nội dung chủ yếu như:

- Phối hợp trao đổi thông tin, dữ liệu về tội phạm và VPPL về môi trưởng biển, các hoạt động xuyên quốc gia tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến môi trường biển trong nước.

- Phối hợp trong xác minh nguồn tin, phát hiện, ngăn chặn và điều tra xử lý tội phạm và VPPL về môi trường biển đặc biệt đối với các tội phạm vận chuyển chất thải xuyên quốc gia, tội phạm gây ô nhiễm môi trường biển.

- Hợp tác trong trao đổi thông tin về khoa học, công nghệ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ giám sát môi trường biển phục vụ cho công tác phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường biển.

- Hợp tác trong tổ chức các hội thảo, hội nghị, trao đổi tọa đàm khoa học nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm của các quốc gia trong phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường biển.

- Hợp tác trong tổ chức tập huấn, đào tạo chuyên gia phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường nói chung và môi trường biển.

- Phối hợp thực hiện các yêu cầu tương trợ, hỗ trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với tội phạm về môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng.

Trong quá trình thực hiện hợp tác quốc tế về phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường biển, lực lượng Cảnh sát môi trường cần lựa chọn các hình thức hợp tác phù hợp trên cơ sở đảm bảo độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo các quy định pháp luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam về BVMT. 

Theo báo cáo của Cục Cảnh sát môi trường, từ năm 2009-2016, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 1.155 vụ VPPL về môi trường biển, chiếm tỉ lệ khoảng 1,40 % so với tổng số vụ VPPL về môi trường đã được phát hiện, xử lý. Trong đó, đã xử lý hành chính 1.142 vụ (chiếm tỉ lệ 98,87%); xử lý hình sự 13 vụ (chiếm tỉ lệ 1,12 %); xử phạt vi phạm hành chính 1.142 vụ, với số tiền 2,55 tỷ đồng. Các VPPL về môi trường biển tập trung chủ yếu tại các địa bàn phát triển mạnh công nghiệp ven biển, khu du lịch biển, cảng biển, khu vực khai thác khoáng sản, thủy sản ven biển, các tuyến hàng hải trên biển. Các vi phạm điển hình như: Khai thác khoáng sản biển, ven biển trái phép; không cải tạo phục hồi môi trường sau khi khai thác; khai thác trái phép động vật, thực vật biển hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm; sử dụng hóa chất độc hại trong khai thác thủy hải sản;vi phạm các quy định về quản lý chất thải trong hoạt động kinh doanh, du lịch, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp ven biển; vận tải biển gây sự cố môi trường tràn dầu trên biển... Đặc biệt, đã xuất hiện những điểm nóng ô nhiễm vùng biển ven bờ thuộc khu vực biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với nội dung hợp tác quốc tế về BVMT biển: Có thể thấy trong giai đoạn vừa qua, cùng với quá trình hội nhập kinh tế, vấn đề hợp tác quốc tế về BVMT cũng đã từng bước được quan tâm, chú trọng. Trên cơ sở các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chiến lược, chương trình, kế hoạch quốc gia về BVMT của Chính phủ công tác hợp tác quốc tế về BVMT nói chung và BVMT biển nói riêng từng bước được các cấp, ngành thực hiện. Hợp tác quốc tế tiếp tục được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thúc đẩy các hoạt động BVMT tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2011 - 2015, Việt Nam đã tiếp tục chủ động, tích cực tham gia 20 điều ước quốc tế về môi trường, từ đó tranh thủ được sự hỗ trợ của quốc tế để thực hiện các chương trình, dự án về bảo vệ môi trường. Nhiều chương trình dự án lớn về bảo vệ môi trường đã và đang được thực hiện với các đối tác chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Thụy Điển... và với sự tài trợ thực hiện của các tổ chức quốc tế khác như: UNDP, UNEP, WB, GEF, ADB, GIZ, JICA... Trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam đã thu hút hơn 30 dự án quốc tế về môi trường với tổng kinh phí lên tới 755 triệu USD, hỗ trợ không chỉ ở cấp trung ương mà còn ở nhiều địa phương. Hoạt động hợp tác quốc tế đã góp một phần đáng kể trong việc huy động nguồn vốn tăng cường năng lực khoa học công nghệ cho ngành; tiếp cận được phương pháp luận hiện đại, tiếp thu kinh nghiệm của các nước vào công tác quản lý môi trường ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc tổ chức hợp tác với các tổ chức quốc tế, các cơ quan thuộc chính phủ của các quốc gia nhằm trao đổi thông tin, kinh nghiệm, đào tạo cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường đã được lực lượng Cảnh sát môi trường chủ động triển khai bước đầu có hiệu quả.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiệu quả hợp tác quốc tế về BVMT nói chung và môi trường biển nói chung, phòng ngừa tội phạm và VPPL về môi trường biển nói riêng vẫn bộc lộ nhiều tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn BVMT biển trong giai đoạn hội nhập. Vì vậy, trong giai đoạn tới cần chú ý một số vấn đề sau:

- Lãnh  đạo, cán bộ quản lý, BVMT, lãnh đạo, cán bộ chiến sĩ Cảnh sát môi trường cần thay đổi tư duy về hợp tác quốc tế để phù hợp hơn với tình hình mới. Chuyển từ tư duy thụ động sang chủ động hội nhập, sẵn sàng cùng tham gia, chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi, đảm bảo hợp tác quốc tế phải trở thành vai trò là đầu mối xây dựng và phát triển các quan hệ hợp tác có chiều sâu chuyên môn trong BVMT nói chung và môi trường biển nói riêng.

- Xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế về BVMT biển xác định các định hướng hợp tác chiến lược, tập trung vào những vấn đề vừa giải quyết nhu cầu trong nước vừa đóng góp giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu và khu vực, chú trọng những vấn đề mới mà Việt Nam có lợi thế điển hình như: Bảo vệ hệ sinh thái biển, hỗ trợ quản lý, bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn biển, ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn,...

- Cần thiết lập đồng bộ mối quan hệ song phương và đa phương, hợp tác kỹ thuật, công nghệ để quản lý, khai thác hiệu quả bền vững tài nguyên, bảo đảm môi trường nói chung và khai thác, sử dụng, bảo vệ sự bền vững của môi trường biển, hệ sinh thái biển.

- Việc tổ chức tiến hành hợp tác quốc tế về BVMT biển, phòng chống tội phạm và VPPL về môi trường biển ngoài các nguyên tắc căn bản theo quy định của pháp luật Việt Nam cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế về BVMT biển điển hình như Công ước của liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)...

- Tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác bền vững với các đối tác truyền thống và mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế khác nhằm huy động nguồn lực phục vụ cho công tác BVMT biển, PCTP và VPPL về môi trường biển với các tổ chức như INTERPOL, ASEANPOL, ASEAN - WEN, TRAFFIC, WWF, USAID. Chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế, coi trọng việc tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế, thúc đẩy hợp tác Á - Âu, châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN, ASEAN+3, cơ chế hợp tác môi trường Đông Á trong BVMT biển.

- Tăng cường xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, dự án về BVMT nói chung và BVMT biển nói riêng trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương, đa phương về môi trường, đặc biệt hướng đến các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á, Châu Á - Thái Bình Dương.

- Cần tập trung tăng cường đầu tư các nguồn lực nhằm đảm bảo kinh phí, con người, khoa học công nghệ để tiến hành các nội dung, chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế về BVMT biển. Lực lượng Cảnh sát môi trường tiếp tục xúc tiến triển khai giai đoạn 2 dự án đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật môi trường trên cơ sở nguồn vốn ODA của Chính phủ Cộng hóa Áo.

- Mở rộng các nội dung hợp tác đặc biệt chú trọng hợp tác quốc tế trong trao đổi thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về các lĩnh vực, hoạt động có liên quan trực tiếp đến công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và VPPL về môi trường biển, đặc biệt trong các hoạt động vận tải biển, khai thác, vận chuyển dầu mỏ, khí đốt, xuất nhập khẩu các loại phương tiện thiết bị cũ, chất thải, phế liệu.

Nguyễn Thị Nga - NCS T32

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi