Chủ Nhật, 22/7/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoạt động xây dựng cơ bản gây ô nhiễm môi trường tại Hà Nội - một số kiến nghị, đề xuất

 Theo thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội, trên địa bàn thủ đô luôn có hơn 1.000 công trường xây dựng lớn nhỏ đang thi công, ngoài ra mỗi tháng có khoảng hơn 10.000 m2 đường bị đào bới để thi công các công trình hạ tầng kỹ thuật. Với lượng lớn các công trình thi công nhưng công tác vệ sinh, môi trường lại không được quan tâm đúng mức như: các phương tiện chở vật liệu xây dựng không có hệ thống che chắn, công trình xây dựng không được bao bọc để hạn chế bụi, chưa có hệ thống thu gom các rác thải nguy hại trong lĩnh vực xây dựng… Trong khi đó, ngày 26/7/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1259/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, dự báo dân số của Hà Nội đến năm 2030 đạt khoảng 4,6 triệu người; diện tích đất xây dựng đô thị khoảng 55.200 ha; đất dân dụng khoảng 34.900ha; Các loại công trình được tập trung xây dựng như công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng.

Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chất lượng môi trường nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã và đang giảm sút nghiêm trọng trong những năm gần đây, trong đó có tác nhân từ hoạt động xây dựng cơ bản. Mỗi năm môi trường không khí Hà Nội phải tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 19.000 tấn khí NO2, 46.000 tấn khí CO2; trong đó có sự “đóng góp” không nhỏ từ quá trình đô thị hóa xây dựng thủ đô. Quá trình phá dỡ, đào, san lấp, vận chuyển vật tư, và do tập trung nhiều thiết bị thi công, phục vụ thi công và sử dụng động cơ diezen công suất cao phát thải khí độc hại như SO2, NOx, CO,… làm ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân trên một diện rộng sống quanh khu vực thi công.

Nước thải sinh ra từ hoạt động xây dựng cơ bản là các loại dầu máy, nước thải xây dựng và nước thải sinh hoạt không qua xử lý được thải bỏ trực tiếp ra các nguồn nước mặt, cống thoát nước chung của thành phố và tiêu thoát xuống bốn con sông Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu của thành phố. Hậu quả là làm ô nhiễm các dòng sông này, thể hiện nước có mùi hôi thối, các chỉ tiêu BOD5, COD, NO3- luôn vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

Môi trường đất bị suy thoái do các chất thải rắn thải từ các công đoạn trong hoạt động thi công. Việc phân loại chất thải cũng chưa được thực hiện, loại chất gây ô nhiễm môi trường đất là hydrocacbon, kim loại nặng (Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn), ngấm sâu xuống đất, ảnh hưởng đến chất lượng của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.

Không chỉ bị ô nhiễm vì bụi, khí thải mà Hà Nội còn đang bị “tra tấn” bởi tiếng ồn. Cũng như ô nhiễm do bụi, trong các nguồn sinh ra tiếng ồn ở đô thị thì các phương tiện giao thông vận tải đóng vai trò chủ yếu; 60 - 80% tiếng ồn gây ra từ động cơ, ống xả, rung động các bộ phận xe, đóng cửa xe, còi và phanh xe, sự tương tác giữa lốp xe và mặt đường. Ngoài ra, ô nhiễm tiếng ồn còn do hoạt động thi công và phục vụ thi công như nổ mìn, đóng ép cọc, san lấp, vận chuyển vật liệu xây dựng.

Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế cho thấy, trong những năm qua sức khỏe của người dân Thủ đô có chiều hướng suy giảm, đặc biệt đối với người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người lao động thường xuyên phải làm việc ngoài trời, người bị bệnh phổi và tim mạch. Hậu quả của ô nhiễm môi trường đối với người dân thủ đô đi liền với những thiệt hại cho nền kinh tế như chi phí khám, chữa bệnh gia tăng, thiệt hại cho sản xuất và nền kinh tế. Trung bình mỗi hộ gia đình phải chi phí đi viện và số ngày nghỉ ốm từ 1,5 - 2 lần/người/năm; ngày nghỉ trung bình vào khoảng từ 8 đến 16 ngày/người/năm.

Vấn đề nêu trên có thể nói có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, song tập trung chủ yếu ở một số những nguyên nhân cơ bản sau:

- Quy định trong các văn bản pháp luật còn thiếu, yếu và lỏng lẻo.

- Nguồn lực đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường trong lĩnh vực xây dựng cơ bản của thủ đô vẫn còn “khiêm tốn”.

- Công nghệ áp dụng bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản vẫn còn rất thô sơ, công nghệ xử lý các phế liệu cũng như biện pháp tái chế chưa được xem trọng. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) đối với từng ngành, lĩnh vực trong xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, công nghệ hiện nay được áp dụng tại các công trình thủ đô chưa đáp ứng được như QCVN 31:2010/BTNMT - QCKTQG về môi trường đối với phế liệu sắt, thép nhập khẩu, QCVN 29:2010/BTNMT - Nước thải của kho và cửa hàng xăng dầu,…..

- Nhận thức của nhà đầu tư các dự án, cán bộ kỹ thuật, người dân còn về công tác bảo vệ môi trường còn yếu yếu kém

Để khắc phục các nguyên nhân cơ bản trên thì việc kiểm soát và giảm thiểu hạn chế ô nhiễm môi trường trong hoạt động xây dựng cơ bản phải dựa trên một loạt các giải pháp đồng bộ. Điều 40 của Luật Bảo vệ Môi trường 2005 quy định đối với hoạt động xây dựng đó là: “Quy hoạch xây dựng phải tuân thủ tiêu chuẩn và yêu cầu về bảo vệ môi trường”. Trên cơ sở pháp luật quy định để đảm bảo hạn chế ô nhiễm môi trường trong hoạt động xây dựng cơ bản cần chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần xây dựng quy trình khảo sát phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường đối với từng ngành, lĩnh vực trong xây dựng cơ bản, trong đó đưa ra được các giải pháp nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.

Thứ hai, nghiên cứu và ban hành các chính sách bắt buộc về phân bổ kinh phí dự án trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và phải đảm bảo một nguồn ngân sách nhất định thực hiện các mục giám sát, quản lý, khắc phục và xử lý các vấn đề môi trường phát sinh.

Thứ ba, áp dụng các công nghệ tái chế các nguyên vật liệu bị thải bỏ trong quá trình xây dựng như bê tông, phế vật liệu,… Đặc biệt, các đơn vị tham gia thi công xây dựng phải thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Ở giai đoạn thi công, các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tới môi trường không khí, ồn, rung được áp dụng như phun nước ít nhất 2 lần/ngày vào những ngày không mưa trong mùa mưa; 4 lần/ngày, 2 lần vào buổi sáng, 2 lần vào buổi chiều vào những ngày không mưa của mùa khô. Các phương tiện vận chuyển đều phải có bạt phủ kín, công nhân cần phải được trang bị đầy đủ phương tiện, trang thiết bị bảo hộ lao động trong quá trình thi công xây dựng, các loại thiết bị sử dụng trong thi công phải phát âm thanh ở mức cho phép. Đối với môi trường nước, đất thì các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình triển khai xây dựng các công trường đều phải có hệ thống thu gom nước thải, xử lý sơ bộ rồi mới cho thoát ra hệ thống chung.

Thứ tư, nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, như xây dựng các chương trình đào tạo mang tính ngắn hạn phục vụ cho từng dự án cụ thể cũng như phát triển các chương trình đào tạo dài hạn cho các cán bộ làm công tác quản lý dự án; tuyên truyền, vận động, tham vấn ý kiến cộng đồng nhằm nâng cao ý thức và kiến thức về môi trường của người dân xung quanh khu vực dự án; các cơ quan quản lý phải có chương trình bồi dưỡng kiến thức môi trường và nghiệp vụ quản lý môi trường cho lực lượng cán bộ, kỹ thuật ngoài công trường.

Thứ năm, đối với lực lượng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường. Cần thực thi tốt công tác thanh tra, kiểm tra, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm về môi trường, kiểm định tiêu chuẩn môi trường. Thực hiện tốt công tác này sẽ góp phần hoàn thành tốt chức năng quản lý Nhà nước về môi trường trên lĩnh vực an ninh trật tự theo “tinh thần” Nghị định 72 của Chính phủ và để hướng tới mục tiêu - phát triển môi trường Hà Nội bền vững.

Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan hữu quan khác giám sát tốt quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường của các khu xây dựng. Tập trung vào các điểm “nóng” xả thải rác thải, nước thải công nghiệp, xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, thường xuyên thông tin rộng rãi cho người dân xung quanh các khu vực có các dự án thi công, cũng như các bên tham gia dự án đầu tư. Chú trọng công tác phòng ngừa bao gồm sử dụng các biện pháp phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng đối với các hành vi vi phạm.

ThS. Nguyễn Quang Huy* ThS. Bùi Phương Thảo**

* ,** Giảng viên khoa Nghiệp vụ CSPCTP  về môi trường, Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 11/2012

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi