Thứ Hai, 24/9/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoàn thiện các quy định về khám xét trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

Thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy, khám xét là một biện pháp điều tra phổ biến, thường được áp dụng nhiều trong hoạt động điều tra tội phạm và mang lại hiệu quả cao. Bởi vì trong quá trình khám xét Cơ quan điều tra có nhiều khả năng phát hiện thu thập tài liệu chứng cứ những đồ vật, tài liệu, tài sản... để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, khám xét là một biện pháp điều tra phức tạp. Khi tiến hành khám xét thường liên quan trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, quyền bảo vệ sức khỏe, tài sản và nhân phẩm của công dân. Do đó, khám xét thường được tiến hành trong hoạt động điều tra những vụ án đã khởi tố, khi có đủ căn cứ pháp luật và theo quy định của pháp luật chỉ có một số người của các Cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền ra lệnh khám xét.

Tất cả những đặc điểm nêu trên đã nói lên vị trí, tầm quan trọng và tính phức tạp của biện pháp khám xét. Chính vì vậy, việc tiến hành biện pháp này cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục.

Thực tế cho thấy, việc tuân thủ những quy định của Bộ luật TTHS về khám xét là điều kiện cơ bản để hoạt động khám xét đạt hiệu quả. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của Bộ luật TTHS về khám xét và thực tiễn hoạt động khám xét trong hoạt động điều tra thời gian qua và qua tham khảo ý kiến của một số chuyên gia cho thấy, tại Chương XII Bộ luật TTHS năm 2003, quy định về: “Khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản” còn chưa đầy đủ, có những quy định còn khái quát, chưa cụ thể, gây khó khăn cho việc vận dụng vào hoạt động khám xét trong thực tiễn hoạt động điều tra. Cụ thể như sau:

- Điều 140 quy định: Căn cứ khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm

“Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã.

Khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì có thể khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm”.

Điều luật này quy định căn cứ khám xét chung cho tất cả các đối tượng: người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện. Trong thực tế, các đối tượng khám xét khác nhau có những đặc điểm riêng khác nhau do đó cần phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung điều luật quy định căn cứ khám xét cụ thể cho từng đối tượng khám xét, đảm bảo mỗi đối tượng khám xét có căn cứ khám xét riêng.

Mặt khác, căn cứ khám xét chưa được quy định cụ thể, rõ ràng, còn mang nặng yếu tố chủ quan của người tiến hành khám xét, thể hiện ở cụm từ “nhận định” hoặc “khi cần”. Theo chúng tôi, căn cứ khám xét phải khách quan, phải dựa trên hồ sơ, tài liệu thu thập được, do đó cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về căn cứ khám xét.

- Khoản 1 Điều 142 quy định: “Khi bắt đầu khám người, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ”.

Quy định này được áp dụng không chỉ cho trường hợp khám người mà còn những đối tượng khám xét khác. Bởi vì: Khoản 1 Điều 143 quy định: “Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được tiến hành theo quy định tại các điều 140, 141 và 142 của bộ luật này”. Tuy nhiên, thực hiện quy định này có thể gây khó khăn cho lực lượng khám xét. Thực tiễn cho thấy, không nên đưa lệnh khám xét cho đương sự đọc lệnh khám xét. Bởi vì, tình hình tại khu vực khám xét khi tiến hành khám xét rất phức tạp, nếu đưa cho đối tượng đọc lệnh khám xét thì có trường hợp Điều tra viên gặp phải sự chống đối của đối tượng, thân nhân của đối tượng dẫn đến hành vi xé, đốt lệnh khám xét. Do đó, trong điều luật chỉ cần quy định Điều tra viên phải đọc lệnh khám xét là đủ.

Mặt khác, cũng tại điều luật này quy định: “Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám”. Trong thực tiễn hoạt động khám xét cho thấy, khi Điều tra viên đã có lệnh khám xét thì bất kỳ trường hợp nào cũng tiến hành khám xét, việc đương sự đồng ý đưa ra những đồ vật tài liệu liên quan đến vụ án không đồng nghĩa với việc hủy bỏ cuộc khám xét. Bởi vì, có nhiều trường hợp, đối tượng đưa ra những đồ vật, tài liệu cho Điều tra viên nhưng chưa đầy đủ hoặc nhằm mục đích che giấu một hành vi phạm tội khác có thể nghiêm trọng hơn, cất giấu những vật chứng khác... Do đó, điều luật cần sửa đổi: “Trước khi tiến hành khám xét, người tiến hành khám xét cần yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án”. Còn việc dừng cuộc khám xét hay không là quyền quyết định của Điều tra viên chủ trì khám xét, dựa vào mục đích của cuộc khám xét và yêu cầu của hoạt động điều tra.

- Khoản 2 Điều 143 quy định: “Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến”.

Qua khảo sát thực tế cho thấy, khi đương sự và những người trong nhà vắng mặt với bất kỳ lý do nào nếu xét thấy cần thiết Điều tra viên vẫn tiến hành khám xét. Nếu thực hiện theo quy định trên thì lực lượng khám xét có thể gặp khó khăn. Bởi vì trước khi tiến hành khám xét trong trường hợp đối tượng và thân nhân vắng mặt tại nhà thì việc Điều tra viên phải làm rõ họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày là vấn đề không đơn giản, mất nhiều thời gian. Do đó, chỉ cần quy định: “...trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ không có mặt ở nhà mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến”.

 - Về việc khám xét đồ vật: Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 thì không có trường hợp khám xét đồ vật độc lập mà chỉ tiến hành đồng thời với việc khám xét các đối tượng khám xét khác như: người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu thực tế, có những trường hợp Điều tra viên cần tiến hành khám xét đồ vật như: xe ô tô, xe máy, valy, túi xách... nhưng không cần tiến hành khám người hoặc khám chỗ ở, chỗ làm việc. Do đó, cần phải bổ sung điều luật quy định cụ thể về khám xét đồ vật như là khám người, khám chỗ ở, chỗ làm việc...

- Về việc khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm: Điều 144 quy định về thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện. Trong điều luật quy định người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan bưu điện hữu quan biết trước khi thi hành thu giữ. Trong Bộ luật cần quy định rõ thời gian thông báo trước khi tiến hành thu giữ là vào thời điểm nào. Nếu thông báo trước mà người phụ trách bưu điện không đồng tình thì việc khám xét gặp khó khăn. Do đó, Bộ luật TTHS cần quy định rõ Điều tra viên chỉ thông báo cho người phụ trách cơ quan bưu điện ngay trước khi tiến hành thu giữ. Trường hợp người phụ trách cơ quan bưu điện không giúp đỡ thì việc thu giữ vẫn được tiến hành. Vấn đề này cần được hướng dẫn cụ thể để vận dụng thống nhất trong thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Ngoài ra, mặc dù Điều 140 có quy định về căn cứ khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, nhưng không có một điều luật nào quy định cụ thể về việc khám xét này. Chẳng hạn như việc khám xét được thực hiện tại đâu? Thành phần tham gia khám xét trong trường hợp này bao gồm những ai? Trình tự, thủ tục như thế nào?... Do đó cũng cần bổ sung điều luật quy định về khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm để làm cơ sở áp dụng trong thực tiễn.

Hiện nay, công tác cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh hơn công cuộc cải cách tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các Nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của TTHS cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật TTHS, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. Vì vậy, hoàn thiện những quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003 về biện pháp khám xét là rất cần thiết, sẽ tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo hiệu quả trong việc áp dụng biện pháp khám xét trong điều tra, khám phá tội phạm.

ThS. PHẠM TUẤN HẢI* - ThS. PHẠM VĂN PHÒNG**

* Phó trưởng Khoa Nghiệp vụ CSĐT - T48 - ** Phó trưởng phòng 5 - C45.

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 12/2012

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi