Thứ Năm, 13/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện pháp luật, bảo đảm “tranh tụng” trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

Như vậy có thể hiểu, để bảo đảm tranh tụng và việc “thắng, thua” trong tranh tụng tại phiên tòa được chứng minh, phân định công khai, khách quan bằng các chứng cứ luật định, thì vấn đề “tranh tụng” phải được chuẩn bị và thực hiện ngay từ các hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ đầu tiên của Cơ quan điều tra. Mặc dù, pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay chưa quy định cụ thể về tranh tụng và chưa coi tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự, song quán triệt tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về việc: “Các Cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa”. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 tại các Điều 56, 57, 58 đã quy định về các quyền của luật sư, người bào chữa, thời điểm luật sư được tham gia tố tụng, tiếp cận thân chủ, tiếp cận các hoạt động điều tra để thu thập tài liệu phục vụ cho yêu cầu bào chữa; các Điều 48, 49, 50 quy định về các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc bảo đảm các quyền đó; các Điều 217, 218, 219 và Điều 220 quy định về trình tự xét hỏi, đối đáp, trả lời chất vấn, xem xét vật chứng tại phiên tòa... Thực chất việc thực hiện các quy định trên của Bộ luật Tố tụng Hình sự chính là những biểu hiện ban đầu của hoạt động “tranh tụng” trong tố tụng, giữa một bên là Cơ quan, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, nhằm phục vụ yêu cầu truy tố buộc tội đối với người bị tình nghi phạm tội, với một bên là người bị tình nghi phạm tội có quyền tự bào chữa hoặc mời người khác bào chữa. Điều đó đòi hỏi, trong giai đoạn điều tra, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra và việc thực hành quyền công tố của Cơ quan Viện kiểm sát phải được tiến hành trên cơ sở các quyền con người của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và quyền thực hiện chức năng bào chữa của luật sư được tôn trọng và thực thi nghiêm túc.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay ở một chừng mực nào đó, các quy định trên của pháp luật tố tụng hình sự nước ta vẫn còn chưa rõ ràng, chặt chẽ và thiếu những cơ chế cần thiết để kiểm tra giám sát việc thực thi. Trong nhiều trường hợp các vi phạm, như: không cấp giấy phép tham gia bào chữa cho luật sư, gây khó khăn cản trở luật sư, không tạo điều kiện thuận lợi cho bị can được mời luật sư bào chữa... vẫn chưa được phát hiện, xử lý kịp thời.

Do vậy, để khắc phục tình trạng trên, bên cạnh việc khẳng định tiếp tục áp dụng mô hình “tố tụng thẩm vấn” như hiện nay và trách nhiệm chứng minh làm rõ sự thật về vụ án vẫn thuộc về các cơ quan, người tiến hành tố tụng, Bộ luật Tố tụng Hình sự cần được bổ sung, điều chỉnh theo hướng: lựa chọn những ưu điểm, tích cực của mô hình “tố tụng tranh tụng” phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí và tập quán pháp lý Việt Nam để bổ sung trong hoạt động tố tụng. Cụ thể là:

- Sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc của tố tụng hình sự, nhằm tăng tính dân chủ, công khai, minh bạch và tính tranh tụng trong quá trình tố tụng; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng; xác định rõ cơ chế bảo đảm cho bị can, bị cáo, người bị tạm giữ được thực hiện đầy đủ các quyền con người khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Cụ thể, bổ sung nguyên tắc tranh tụng và theo đó là các nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bình đẳng thu thập, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự.

- Xác định rõ trách nhiệm, tư cách pháp lý của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và người bào chữa. Tạo lập cơ chế, bảo đảm cho họ với tư cách là một bên của tranh tụng, có vị trí độc lập, bình đẳng với bên buộc tội trong việc chứng minh sự vô tội hoặc thực hiện việc gỡ tội giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bảo đảm khi nào, ở đâu của quá trình tố tụng có hành vi buộc tội, thì ở đó quyền bào chữa phải được tôn trọng và thực thi đầy đủ. Sự buộc tội càng cao thì sự bào chữa càng lớn, tội phạm càng nghiêm trọng thì càng phải coi trọng việc bào chữa. Pháp luật cần xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước, của các Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, người bị tạm giữ và vai trò bào chữa của luật sư trong các giai đoạn tố tụng, theo hướng:

+ Tiếp tục ghi nhận và có cơ chế bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quyền của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ đã được pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định.  

+ Mở rộng hơn diện các vụ án và thời gian tố tụng bắt buộc phải có luật sư tham gia bào chữa. Cần đơn giản hóa các thủ tục để luật sư nhanh chóng được cấp giấy phép bào chữa, tham gia tố tụng hình sự ngay từ khi thân chủ của họ bị tạm giữ. Để bảo đảm quy định đó được thực thi, các cơ quan ban hành pháp luật cần nghiên cứu để đến một lúc nào đó có đủ điều kiện cho phép cần quy định rõ: Bị can, bị cáo, người bị tạm giữ có quyền “im lặng” cho đến khi có luật sư của họ và không được coi sự im lặng đó là thái độ thiếu thiện chí. Mọi trường hợp không có điều kiện thuê luật sư, từ chối luật sư đều phải được kiểm tra, xác minh từ chính bị can, bị cáo và thân nhân của họ. Mọi tài liệu thu được bằng các biện pháp điều tra không có sự tham gia tố tụng hình sự của luật sư, người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo quy định của pháp luật đều không có giá trị chứng minh vụ án.

+ Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và sử dụng kết quả bào chữa “trong tranh tụng” của bên bị buộc tội, như: các đồ vật, tài liệu do bị can, bị cáo, người bào chữa cung cấp; các tình tiết, lập luận của họ đưa ra phải được các cơ quan, người tiến hành tố tụng tôn trọng, kiểm tra, xác minh, nếu có đủ căn cứ, thì phải chấp nhận để xem xét giải quyết vụ án được khách quan toàn diện.    

- Cùng với việc xác lập cơ chế mở rộng việc bảo đảm nhân quyền cho bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, thì pháp luật cũng cần được nghiên cứu để mở rộng hơn thẩm quyền cho Cơ quan điều tra trong khai thác sử dụng các phương pháp, phương tiện, thiết bị kỹ thuật thu thập chứng cứ, cũng như diện, loại tài liệu được xác định là chứng cứ của vụ án. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi vì một khi quyền hành nghề của luật sư, quyền con người của bị can, người bị tạm giữ được tôn trọng và mở rộng hơn, trong khi việc quy định về chứng cứ và các biện pháp thu thập chứng cứ vẫn chủ yếu dựa vào nguồn lời khai, chứng cứ viết tay như hiện nay, thì có thể khẳng định rằng: Cơ quan điều tra không có đủ những điều kiện cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Do vậy, tình trạng bức cung, nhục hình, cản trở luật sư hành nghề, vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra cũng là điều dễ hiểu.

- Phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (buộc tội, bào chữa, xét xử), rà soát để loại bỏ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất các thẩm quyền không phù hợp với chức năng tố tụng của các chủ thể, từng bước đưa các chủ thể tố tụng về đúng vị trí vai trò tố tụng của mình. Trong đó, cần loại bỏ ngay một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, như: Điều 10 quy định về việc xác định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm; Điều 195, 196 quy định về việc Tòa án có quyền ra quyết định khởi tố vụ án và được xét xử cả các vấn đề ngoài phạm vi Cơ quan Viện Kiểm sát đề nghị truy tố hoặc khi Cơ quan Viện Kiểm sát đã rút một phần hay toàn bộ quyết định đề nghị truy tố.

- Quy định rõ hơn trách nhiệm, xác lập rõ cơ chế pháp lý để Cơ quan Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra ngay từ các hoạt động tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo ban đầu về tội phạm, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, người bị tạm giữ và quyền hành nghề của luật sư. Trong đó, cần tập trung vào các trường hợp: bị can, người bị tạm giữ từ chối luật sư; luật sư bị từ chối cấp giấy phép; luật sư không có mặt trong các hoạt động điều tra, không được nghiên cứu hồ sơ để thu thập tài liệu phục vụ yêu cầu bào chữa theo quy định của pháp luật... Qua đó, giúp cho việc truy tố, buộc tội, luận tội bị cáo, cũng như việc tranh tụng bảo vệ cáo trạng của Cơ quan Viện Kiểm sát phải được cân nhắc xem xét một cách thận trọng từ chứng cứ đến tội danh ngay từ giai đoạn điều tra vụ án. Bất kỳ sự dễ dãi nào của Viện Kiểm sát đối với quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ của Cơ quan điều tra sẽ bị “trả giá” bằng chính uy tín và trách nhiệm pháp lý của Cơ quan Viện Kiểm sát khi trực tiếp tranh tụng bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa.

 GS,TS. ĐỖ ĐÌNH HÒA - Khoa Đào tạo SĐH và BDNC, Học viện Cảnh sát nhân dân

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 12/2012

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi