Thứ Tư, 26/9/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm về kinh tế tại các Khu kinh tế cửa khẩu của lực lượng Hải quan

Nhiều văn bản về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của lực lượng Hải quan trong phòng ngừa, phát hiện tội phạm còn bị động trước diễn biến phức tạp của tình hình và trong điều kiện, yêu cầu hội nhập của ngành Hải quan. Bộ máy tổ chức cơ quan tổng cục; cục Hải quan tỉnh, thành phố; chi cục Hải quan và đội kiểm soát Hải quan được xây dựng trên cơ sở thực hiện quản lý Hải quan theo mô hình và công nghệ truyền thống mang tính hành chính đơn thuần, phân tán theo địa giới hành chính chưa thích hợp với yêu cầu của công tác phòng ngừa và phát hiện tội phạm về kinh tế trong tình hình mới. Một số văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng cho nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Hải quan nội dung còn thiếu sót, mâu thuẫn. Các văn bản pháp luật khác quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Hải quan trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới còn nhiều bất cập, dẫn tới sự đùn đẩy, tránh né, sợ trách nhiệm… khi thi hành công vụ. Chẳng hạn theo Khoản 4, Điều 111 Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS) và Khoản 1, Điều 20, Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự (ĐTHS), lực lượng Hải quan có quyền thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi ở… trong khu vực kiểm soát của Hải quan. Song các quy định của Bộ luật TTHS về khám xét từ Điều 140 đến 145 lại không quy định rõ quyền ra lệnh khám xét và các cơ chế để thực hiện quyền đó. Hơn nữa, phạm vi quyền hạn trong bắt, tạm giữ của lực lượng Hải quan theo quy định của pháp luật rất hạn chế (chỉ có quyền bắt trong trường hợp phạm tội quả tang) nên nhiều trường hợp việc đấu tranh, phòng, chống không đạt hiệu quả, nhiều đối tượng không xử lý được.

Bên cạnh đó, Luật Hải quan không nhất quán với Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) và do vậy việc áp dụng Điều 5 Khoản 2 của Luật SHTT (ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành khi pháp luật khác có quy định khác với pháp luật chuyên ngành) và các điều khoản về quyền SHTT trong Luật Hải quan đã không mang lại hiệu quả pháp lý thực sự. Các Điều từ 57 đến 59 (nguyên tắc, điều kiện, quy định cụ thể về việc tạm dừng làm thủ tục Hải quan) trong Luật Hải quan 29/2001/QH10 không nhất quán với các quy định tương ứng trong Luật SHTT. Do đó, cần phải tiếp tục tiến hành sửa đổi những quy định về quyền SHTT tại Luật Hải quan và Nghị định 154/2005/NĐ-CP cũng như Luật SHTT để Hải quan Việt Nam có thể đáp ứng được các cam kết pháp lý trong Hiệp định TRIPS của WTO. Bộ Luật TTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự chưa quy định thẩm quyền của lực lượng Hải quan được khởi tố điều tra các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Một số quy định của Luật Hải quan chưa thể hiện được hết tính chất của hoạt động Hải quan (đặc biệt về chức năng chống buôn lậu, chống gian lận thương mại của Hải quan), như các quy định về địa bàn hoạt động Hải quan. Quy định hiện hành về địa bàn hoạt động Hải quan thực chất mới chỉ là địa bàn làm thủ tục Hải quan trong khi đó Hải quan phải thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trên toàn tuyến. Việc quy định địa bàn hoạt động theo Luật chưa bao hàm hết được tính chất hoạt động của cơ quan Hải quan và đã phần nào hạn chế hiệu lực kiểm tra giám sát về Hải quan. Theo quy định của Hải quan các nước tiên tiến thì họ đều xác định địa bàn hoạt động Hải quan (hay lãnh thổ Hải quan) là trùng khít với lãnh thổ quốc gia mà ở đó chủ quyền Hải quan của quốc gia đó được thực hiện một cách đầy đủ.

Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát hải quan nói chung và hoạt động phòng ngừa, phát hiện tội phạm về kinh tế tại các khu kinh tế của khẩu nói riêng, cần thiết phải thực hiện sửa đổi, bổ sung pháp lệnh theo những hướng sau:

Một là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Hải quan và văn bản luật liên quan nhằm nâng cao tính pháp lý của áp dụng quản lý rủi ro, nâng cao trách nhiệm của người khai hải quan, các tổ chức, cá nhân liên quan trong thực hiện cung cấp, trao đổi thông tin, như: kiến nghị sửa đổi bổ sung Luật Hải quan và Nghị định 154 phần nội dung quy định về quản lý rủi ro; xây dựng quy định tiêu chuẩn kỹ thuật của hệ thống quản lý rủi ro,... Kiến nghị tăng mức phạt tiền quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan nhằm răn đe.

Hai là, nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các văn bản là cơ sở pháp lý cho việc trao đổi thông tin với bộ, ngành, cơ quan chức năng, hiệp hội ngành, nghề liên quan. Nhất là các quy định là cơ sở cho việc tự động hóa, đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu, phần mềm trao đổi thông tin. Xây dựng, hoàn thiện các quy trình, qui định về nghiệp vụ thu thập, xử lý thông tin.

Ba là, đề xuất sửa đổi Nghị định 107/NĐ-CP quy định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo hướng đảm bảo cơ sở pháp lý thực hiện hiệu quả các biện pháp thu thập thông tin nghiệp vụ, tuần tra kiểm soát, trinh sát, bắt giữ...

Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định về thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan, như: Sửa đổi, bổ sung cho cơ quan hải quan có thẩm quyền khởi tố, điều tra đối với tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan - Điều 170a; tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp - Điều 171 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009. Sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan, Nghị định 154 và các văn bản hướng dẫn về các quy định liên quan đến nhiệm vụ thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Bổ sung cho cơ quan hải quan có thẩm quyền khởi tố, điều tra đối với Tội trốn thuế. Đây là các tội danh thường xảy ra trên địa bàn hoạt động hải quan.

Năm là, nghiên cứu xây dựng và kiến nghị các cấp có thẩm quyền ban hành văn bản nhằm thực hiện các cam kết quốc tế trong công tác chống khủng bố, rửa tiền, hợp tác quốc tế trong kiểm soát chung, hỗ trợ hành chính, tư pháp trong lĩnh vực kiểm soát hải quan.

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện biện pháp nghiệp vụ cơ bản theo Quyết định số 65/2004/QĐ-TTg, trong đó chú trọng tới hệ thống hồ sơ, nghiên cứu sửa đổi giảm bớt biểu mẫu ấn chỉ nhưng phải đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ đồng thời dễ áp dụng, phù hợp thực tiễn công tác, nhất là biểu mẫu hồ sơ cơ sở bí mật và hồ sơ sưu tra đối tượng buôn lậu. Ban hành văn bản quy định cụ thể về những tiêu chí để căn cứ xét phân loại đối tượng A và B, về tần suất hoạt động (số lượng, trị giá hàng lậu,... ); Quy định về biểu mẫu, trình tự, thẩm quyền trong lập hồ sơ chuyên án.

Cụ thể cần thực hiện những nội dung sau:

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Hải quan và văn bản luật liên quan nhằm nâng cao tính pháp lý của áp dụng quản lý rủi ro, nâng cao trách nhiệm của người khai hải quan, các tổ chức, cá nhân liên quan trong thực hiện cung cấp, trao đổi thông tin, như: kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan và Nghị định 154 phần nội dung quy định về quản lý rủi ro, xây dựng quy định tiêu chuẩn kỹ thuật của hệ thống quản lý rủi ro. Hiện nay, trong Luật Hải quan có những quy định chưa thống nhất, đồng thời cũng không hoàn toàn tuân thủ các nguyên tắc của quản lý rủi ro. Những quy định về việc miễn kiểm tra thực tế hàng hóa tại các Điểm 1 và 2 Điều 30 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan có hiệu lực từ 1/1/2006 có một số điểm mâu thuẫn với nguyên tắc về tiến hành thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát Hải quan quy định tại Khoản 1 Điều 15 Luật Hải quan, theo đó mọi hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đều phải làm thủ tục Hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát Hải quan, mặt khác không tuân thủ các nguyên tắc của quản lý rủi ro do đã mặc nhiên loại trừ một số đối tượng ra khỏi phạm vi kiểm tra của cơ quan Hải quan. Như vậy, về nguyên tắc cần sửa đổi điều luật của Luật Hải quan có quy định các trường hợp được miễn kiểm tra Hải quan theo hướng chỉ quy định thẩm quyền của Cơ quan Hải quan được kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, đồng thời quy định rõ nguyên tắc chỉ được kiểm tra dựa trên việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin nhằm loại trừ những đối tượng dựa trên thông tin có thể kết luận rủi ro vi phạm pháp luật Hải quan là nhỏ nhất. Ngoài ra, kiến nghị sửa đổi bổ sung cho cơ quan Hải quan có thẩm quyền khởi tố, điều tra đối với tội trốn thuế, tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan - Điều 170a; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp - Điều 171 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009; sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan, Nghị định 105/NĐ-CP ngày 22/9/2006 và các văn bản hướng dẫn về các quy định liên quan đến nhiệm vụ thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.  Kiến nghị bổ sung quy định điều chỉnh trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cơ quan chức năng liên quan đến công tác quản lý rủi ro vào Luật Hải quan, Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Quyết định 48/QĐ-BTC và các văn bản hướng dẫn.

Về địa bàn hoạt động, khu vực kiểm soát, kiểm tra, giám sát Hải quan cần quy định rõ hơn nữa về khu vực kiểm soát, kiểm tra, giám sát Hải quan đối với địa bàn hoạt động Hải quan, các quy định của Nghị định 107/NĐ-CP trong thực tiễn bộc lộ nhiều bất cập, không cụ thể, nhiều khái niệm cần bổ sung như lối mở, đường mòn, khu vực chồng lấn… Cần có các quy định linh hoạt đối với các khu vực kiểm tra, giám sát đối với các đối tượng được hưởng ưu đãi về thủ tục Hải quan và  kiểm tra, giám sát Hải quan, hoặc để phù hợp với thực tế kinh doanh có thay đổi tại địa phương, nhất là khu vực biên giới; khi có sự cần thiết phải giám sát hay kiểm tra chi tiết hàng hóa và phương tiện vận tải, do cơ quan Hải quan phát hiện bên ngoài các địa điểm kiểm tra, giám sát thường xuyên. Đề xuất sửa đổi quy định về phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan theo hướng đảm bảo cơ sở pháp lý thực hiện hiệu quả các biện pháp thu thập thông tin nghiệp vụ, tuần tra kiểm soát, trinh sát, bắt giữ…

Xây dựng và triển khai chiến lược hành động về kiểm soát sở hữu trí tuệ tại biên giới nói chung, tại các khu kinh tế cửa khẩu nói riêng. Tổ chức nghiên cứu quy trình quản lý rủi ro đặc thù cho bảo vệ sở hữu trí tuệ, thiết lập được hệ thống thống kê đăng ký bảo hộ thực thi và bắt giữ các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại các khu kinh tế cửa khẩu. Xây dựng được hệ thống trao đổi quyền sở hữu trí tuệ của các Khu kinh tế cửa khẩu.

Kiến nghị, đề xuất với Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính, tham mưu cho Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện các cơ sở pháp lý cho hoạt động của lực lượng chống buôn lậu ngành Hải quan. Tiếp tục, tăng cường  hướng dẫn thực hiện Quyết định số 65/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 102/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng kiểm soát Hải quan chuyên trách. Ngoài ra kiến nghị sửa đổi Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan theo hướng tăng khung hình phạt tiền. Mặt khác, cần có văn bản cụ thể hóa hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách đối với Cơ sở bí mật.

Đề nghị Tổng cục Hải quan kiến nghị Bộ Tài chính xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính hơn nữa cho công tác kiểm soát tại các khu kinh tế cửa khẩu, cụ thể là sửa đổi mức chi cho việc trang bị phương tiện, công cụ hỗ trợ và chi cho hoạt động nghiệp vụ vì hiện nay phương tiện hỗ trợ cho hoạt động này rất thiếu thốn và đã quá cũ kỹ, lỗi thời. Trong khi đó các đối tượng buôn lậu được trang bị phương tiện rất hiện đại. Về kinh phí chi cho việc mua tin, xăng dầu… hiện nay đang quá ít so với thực tế. Đề nghị cho phép các đơn vị trực tiếp tham gia bắt giữ được trích 15% trên tổng số tiền thu được từ bán tang vật, phương tiện vi phạm của từng vụ việc để sử dụng vào mục đích chi mua trang thiết bị, phương tiện làm việc, đầu tư cơ sở vật chất, chi cho công tác tuyên truyền, chi hỗ trợ ban đầu cho cán bộ bị thương, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ.

Cần quy định thống nhất, rõ ràng cơ chế để thực hiện các quyền của lực lượng Hải quan được quy định tại Khoản 1, Điều 20, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự như quyền ra lệnh khám xét người, khám nơi cất giấu hàng cấm, hàng lậu. Theo quy định hiện hành thì “Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại điều 153, 154 của Bộ luật Hình sự thì có quyền…”, nên sửa đổi theo đúng quy định tại Khoản 1, Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự “Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì cơ quan Hải quan có quyền…” nhằm đảm bảo tính thống nhất trong các văn bản luật, vừa đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tiễn của hoạt động Hải quan.

Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm soát, kiểm tra, giám sát của Hải quan các Khu kinh tế cửa khẩu, qua đó góp phần quan trọng vào phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi gian lận thương mại tại khu kinh tế cửa khẩu. Việc thực hiện các chế độ kiểm tra, giám sát Hải quan là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Hải quan tại các khu kinh tế cửa khẩu trong công tác quản lý nhà nước. Việc hoàn thiện phải dựa trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan phù hợp với các cam kết quốc tế, chuẩn mực quốc tế cũng như các điều kiện thực tế của Việt Nam, cần nhằm vào hoàn thiện các nguyên tắc tiến hành kiểm soát Hải quan, thời hạn tiến hành, các đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát Hải quan, khu vực kiểm tra, giám sát Hải quan; hình thức và trình tự tiến hành kiểm tra Hải quan tại các khu kinh tế cửa khẩu.

ThS. LƯU VĂN CƯỜNG - Cục Điều tra Chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan, Nghiên cứu sinh, Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 12/2012

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi