Thứ Hai, 22/1/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Những vấn đề cần chú ý khi triển khai thực hiện hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa In-đô-nê-xi-a

Ngày 25/8/2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 44/NQ-CP cho phép đàm phán dự thảo Hiệp định và ủy quyền cho Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an làm Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam. Dự thảo Hiệp định được hai Bên tổ chức đàm phán tại Băng-dung, In-đô-nê-xi-a, từ ngày 03/9 đến ngày 04/9/2012. Kết thúc đàm phán, hai Bên đã đạt được thỏa thuận về toàn bộ nội dung của dự thảo Hiệp định. Được sự ủy quyền của hai nhà nước, ngày 27/6/2013 tại Gia-các-ta, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và thay mặt Cộng hòa In-đô-nê-xi-a, Ngày Amir Syamsudin Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Nhân quyền In-đô-nê-xi-a đã ký chính thức Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa In-đô-nê-xi-a(1). Theo quy định của Hiệp định và pháp luật mỗi nước, Hiệp định phải được cơ quan có thẩm quyền mỗi nước phê chuẩn. Về phía Việt Nam, ngày 11/11/2013, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 2138/2013/QĐ-CTN phê chuẩn Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa In-đô-nê-xi-a. Ngày 15/7/2015, Bộ Ngoại giao có Thông báo số 24/2015/TB-LPQT thông báo Hiệp định chính thức phát sinh hiệu lực từ ngày 26/4/2015.

Hiệp định được xây dựng trên cơ sở pháp luật quốc gia của mỗi Bên, tương thích với các điều ước quốc tế về dẫn độ mà mỗi Bên là thành viên và luật pháp, thông lệ quốc tế về dẫn độ; gồm Lời nói đầu và 23 điều, cụ thể là: nghĩa vụ dẫn độ (Điều 1); tội phạm thuộc trường hợp bị dẫn độ (Điều 2); từ chối dẫn độ (Điều 3); công dân (Điều 4); cơ quan trung ương (Điều 5); yêu cầu dẫn độ và tài liệu (Điều 6); thông tin bổ sung (Điều 7); chuyển giao tự nguyện (Điều 8); bắt khẩn cấp (Điều 9); quyết định về yêu cầu dẫn độ (Điều 10); chuyển giao (Điều 11); hoãn và chuyển giao tạm thời (Điều 12); nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một người (Điều 13); quy tắc đặc biệt (Điều 14); chuyển giao tài sản (Điều 15); tương trợ pháp lý (Điều 16); quá cảnh (Điều 17); thông báo kết quả (Điều 18); chi phí (Điều 19); nghĩa vụ quốc tế (Điều 20); giải quyết bất đồng (Điều 21); sửa đổi, bổ sung (Điều 22); điều khoản cuối cùng (Điều 23). Hiệp định được làm thành 02 bản chính, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng In-đô-nê-xi-a và tiếng Anh. Trong trường hợp nảy sinh bất đồng trong việc giải thích Hiệp định này thì sẽ căn cứ vào bản tiếng Anh.

Hiệp định được ký kết thể hiện cam kết chung của hai Nhà nước với cộng đồng quốc tế về tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm(2); đồng thời góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam và In-đô-nê-xi-a nói riêng và đưa “mối quan hệ đối tác chiến lược” giữa hai nước đi vào thực chất.

Dương Chí Dũng bị dẫn độ về Việt Nam khi đang trốn ở một trong các nước ASEAN

Sau khi Hiệp định chính thức có hiệu lực, các cơ quan có thẩm quyền của hai nước Việt nam và In-đô-nê-xi-a nhanh chóng có kế hoạch triển khai thực hiện Hiệp định.
Về phía các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, để chủ động triển khai thực hiện Hiệp định cần chú ý một số vấn đề sau:
- Việc triển khai thực hiện Hiệp định vừa phải căn cứ vào các quy định của Hiệp định, vừa phải căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến hoạt động dẫn độ; đồng thời, trong từng trường hợp cụ thể, cũng cần tính đến “nguyên tắc có đi có lại” theo pháp luật quốc tế và “mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - In-đô-nê-xi-a”.
- Theo quy định của Hiệp định và pháp luật Việt Nam, Bộ Công an là Cơ quan trung ương của Việt Nam thực hiện Hiệp định và phía In-đô-nê-xi-a là Bộ Luật pháp và Nhân quyền (Điều 5). Về phía Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Công an giao Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp làm cơ quan đầu mối giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ này.
- Cần xây dựng phương án truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị yêu cầu dẫn độ là công dân của Bên yêu cầu khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng lại là công dân của Bên được yêu cầu (thay đổi quốc tịch) và lẩn trốn ở Bên đó vào thời điểm Bên đó nhận được yêu cầu dẫn độ. Trong trường hợp này, hai Bên cần phối hợp chặt chẽ để truy cứu trách nhiệm người này (Điều 4).
- Các tội có thể bị dẫn độ là các tội có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ một (01) năm trở lên hoặc nghiêm khắc hơn theo quy định pháp luật của cả hai Bên (Khoản 1 Điều 2). Đối với yêu cầu dẫn độ để thi hành bản án đã được tuyên thì thời hạn còn phải tiếp tục chấp hành hình phạt đối với tội phạm thuộc trường hợp bị dẫn độ không được ít hơn sáu (06) tháng.
- Hiệp định quy định dẫn độ sẽ bị từ chối nếu tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm chính trị (điểm a Khoản 1 Điều 3) hoặc tội phạm quân sự (điểm c Khoản 1 Điều 3). Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về “tội phạm chính trị” và “tội phạm quân sự”. Vì vậy, khi lập yêu cầu dẫn độ các cơ quan tiến hành tố tụng cần lưu ý tội danh nêu trong yêu cầu dẫn độ (tội phạm chính trị có thể hiểu là các tội quy định tại Chương XI. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm quân sự có thể hiểu là các tội quy định tại Chương XXIII. Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân).
-  Hiệp định quy định dẫn độ sẽ bị từ chối nếu pháp luật của Bên yêu cầu quy định tội phạm bị dẫn độ sẽ bị kết án tử hình, trong khi tội phạm đó không bị kết án tử hình theo pháp luật của Bên được yêu cầu (điểm f Khoản 1 Điều 3). Tuy nhiên, việc dẫn độ nghi phạm đó sẽ được thực hiện nếu Bên yêu cầu cam kết nếu người đó bị kết án tử hình thì hình phạt sẽ không được thi hành. Hiện nay hình phạt tử hình vẫn được quy định trong pháp luật của cả hai Bên ký kết. Tuy nhiên, Hiệp định đã dự trù tình huống trong tương lai một Bên ký kết bỏ hình phạt tử hình. Trong trường hợp In-đô-nê-xi-a là nước bỏ hình phạt tử hình và là Bên được yêu cầu, Việt Nam là Bên yêu cầu và chưa bỏ hình phạt tử hình, có thể sử dụng cơ chế ân xá của Chủ tịch nước trong các trường hợp này.
- Trong trường hợp khẩn cấp nhằm ngăn chặn người phạm tội tiếp tục bỏ trốn sang nước thứ ba hoặc tiếp tục phạm tội hoặc gây ra những khó khăn cho hoạt động điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam có thể gửi yêu cầu bắt khẩn cấp đến cơ quan có thẩm quyền của In-đô-nê-xi-a thông qua kênh ngoại giao hoặc Interpol hoặc Aseanapol hoặc kênh khác, bao gồm cả các phương tiện điện tử (hộp thư điện tử, fax…). Tuy nhiên, trong vòng sáu mươi (60) ngày kể từ ngày người phạm tội bị bắt giữ theo yêu cầu khẩn cấp, cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam phải lập và gửi hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức đến cơ quan có thẩm quyền của In-đô-nê-xi-a. Nếu quá thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền của In-đô-nê-xi-a chưa nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức theo quy định của Hiệp định, người đó sẽ được trả tự do (Điều 9).
- Theo quy định của Luật tương trợ tư pháp của Việt Nam năm 2007, quy trình thực hiện yêu cầu dẫn độ được ba cơ quan chính thực hiện là Bộ Công an, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền; trong đó, Bộ Công an là cơ quan đầu mối tiếp nhận, lập hồ sơ, xem xét hồ sơ bước đầu, chuyển hồ sơ cho Tòa án giải quyết theo thẩm quyền; thực hiện việc dẫn độ theo quyết định của Tòa án; Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền (nơi người bị yêu cầu dẫn độ đang cư trú, đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc chấp hành hình phạt tù phải thụ lý) mở phiên họp (có đại diện của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, luật sư, người bị yêu cầu dẫn độ) xem xét yêu cầu dẫn độ; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp tham gia phiên họp, thực hiện việc giám sát thi hành pháp luật theo thẩm quyền. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ tham gia khi có kháng cáo, kháng nghị về quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh về việc xem xét yêu cầu dẫn độ.
Sau khi nhận được các quyết định có hiệu lực của Tòa án, Bộ Công an tổ chức thi hành ngay việc dẫn độ người phạm tội theo thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của In-đô-nê-xi-a.
- Nếu có nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một người, Bên được yêu cầu sẽ xem xét tất cả các yếu tố liên quan theo thứ tự ưu tiên: i) yêu cầu dẫn độ có được lập theo một hiệp định không; ii) mức độ nghiêm trọng của tội phạm; iii) thời gian và địa điểm phạm tội; iv) quốc tịch của người bị yêu cầu dẫn độ và người bị hại; v) ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ; vi) khả năng dẫn độ tiếp theo cho một quốc gia khác và các yếu tố khác (Điều 13).
- Sau khi Hiệp định có hiệu lực, mỗi Bên cần tuyên truyền, phổ biến nội dung Hiệp định đến các cơ quan chức năng; đồng thời, hai Bên cần nghiên cứu đánh giá, tổng kết các kết quả, thuận lợi, khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Hiệp định theo chu kỳ 05 năm một lần; qua đó, rút kinh nghiệm và tìm giải pháp khắc phục những hạn chế, khó khăn này.
- Trong khi chờ các cơ quan chức năng ban hành Thông tư hướng dẫn về dẫn độ theo Luật tương trợ tư pháp năm 2007 (Bộ Công an đang chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao), các cơ quan chức năng thực hiện công tác dẫn độ cần tăng cường bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, ngoại ngữ cho cán bộ chuyên trách, tăng cường nhân lực, cơ sở vật chất và bố trí kinh phí để triển khai thực hiện có hiệu quả Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Công hòa In-đô-nê-xi-a trên cơ sở các quy định của Luật tương trợ tư pháp năm 2007 và hướng dẫn trong cuốn Sổ tay công tác dẫn độ(4), tránh tình trạng bị động, lúng túng. Theo quy định hiện hành, trong quá trình thực thi Hiệp định, nếu phát sinh bất kỳ khó khăn, vướng mắc gì, cần trao đổi ngay với Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an (điện thoại: 069.40201; fax:069.42215; emai: phong5vpc@gmail.com) để báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết.

 

Nguyễn Thị Thu Hương
Khoa Luật - T32


(1) Hiệp định được ký nhân chuyến thăm và làm việc của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang tới Cộng hòa In-đô-nê-xi-a từ ngày 27 đến 28/6/2013.
(2) Tính đến nay, Việt Nam đã ký chính thức 10 Hiệp định chuyên về dẫn độ với Hàn Quốc, Úc, An-giê-ri, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Hung-ga-ri, Căm-pu-chia, Xri Lan-ca, Tây Ban Nha, Trung Quốc và 11 hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự có quy định về dẫn độ; đồng thời là thành viên của 20 điều ước quốc tế đa phương có quy định về dẫn độ hoặc tăng cường hợp tác về dẫn độ. Ngoài ra, 2 hiệp định về dẫn độ với Nam Phi, Pháp đã được ký tắt.
(3) GS, TS. Nguyễn Ngọc Anh chủ biên, Nxb Lao động, 2014

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi