Chủ Nhật, 22/7/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Thực trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông, thủy hải sản và một vài kiến nghị

Theo số liệu của Bộ Công thương năm 2010 Việt Nam mới có 10 mặt hàng nông nghiệp có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD thì đến năm 2011 đã có 14 mặt hàng. Sản xuất nông nghiệp đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước và ổn định đời sống của người dân; tuy nhiên, hoạt động này đã tạo ra những tác động tiêu cực đáng kể đối với môi trường và sức khỏe con người.

Vấn đề ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực nông nghiệp còn dẫn đến suy thoái đất, nước, suy thoái chất lượng cây trồng, gia súc, các loài thủy sinh… là những vấn đề bức xúc đặc biệt đáng quan tâm. Qua khảo sát, có thể đánh giá vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) trong một số lĩnh vực cụ thể như sau:

- Lạm dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật

Phân bón góp vai trò quan trọng đến tăng năng suất cây trồng để đáp ứng với sự tăng lên của dân số. Tuy nhiên, khi sử dụng phân bón cây trồng không hấp thụ được hết mà để lại một dư lượng không nhỏ các thành phần phân bón vào môi trường. Theo số liệu của Cục Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) năm 2011 cho thấy hiện nay chúng ta có khoảng 1.685.000 ha diện tích trồng rau quả, tuy nhiên nghiên cứu cho thấy khoảng 70% vi phạm quy định sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch; khoảng 20% gây ô nhiễm môi trường đất, nước; hấp thụ của cây trồng đối với phân đạm chỉ đạt 30-40%, phân lân từ 40-45%, kali từ 40-50%.  Sự tích tụ dư lượng phân bón này sẽ có những tác động tiêu cực đáng kể đối với hệ sinh thái, một phần các dư lượng này ngấm vào đất, một phần bị rửa trôi xuống ao, hồ, hay mạch nước ngầm gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và ảnh hưởng đối với sinh vật sống.

- Nuôi trồng thủy hải sản không theo quy hoạch

Trong nuôi trồng thủy sản, theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích nước mặt sử dụng cho nuôi trồng thủy sản của cả nước hiện nay đạt khoảng 800.000 ha. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch nên đã làm phá vỡ cảnh quan ở nhiều nơi. Thêm nữa việc nuôi trồng không tuân theo quy trình kỹ thuật cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất nuôi trồng thủy sản đã làm nước bị nhiễm hóa chất; các thức ăn dư thừa lắng xuống đáy ao, hồ, song, suối làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển các loại vi sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu thủy triều đỏ ở một số vùng biển Việt Nam.

- Chôn lấp hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) quá hạn, dư thừa thiếu kiểm soát và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường

Công tác chôn lấp, thu gom hóa chất, thuốc BVTV, thuốc thú y quá hạn chưa thực sự được quan tâm và là vấn đề đáng lo ngại đến ô nhiễm môi trường. Thực tế cho thấy tồn dư hóa chất, thuốc BVTV được chôn lấp, tiêu hủy không theo quy định được phát hiện ở nhiều địa bàn trên cả nước. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT năm 2011, số lượng hóa chất dư thừa chôn lấp ước tính lên tới 1.140 tấn; đáng lo ngại các điểm chôn lấp nhiều so với các nguồn tồn lưu trên mặt đất với quy mô lớn nên khó kiểm soát. Hồ sơ nguồn tồn lưu, chôn lấp không được các chủ sở hữu ghi chép đầy đủ, thậm chí thất lạc nên không có biện pháp quản lý và xử lý hiệu quả. Các điểm chôn lấp này thực sự đang gây nguy hiểm cho sức khỏe con người. Đáng lo ngại, nhiều địa phương còn sử dụng khu vực đất trước đây chôn lấp hóa chất để làm vườn, xây dựng cơ quan, trường học, khu dân cư… có thể là nguyên nhân phát sinh bệnh tật cho những người sinh sống trên những mảnh đất này.

Thêm nữa hiện nay còn có hàng trăm doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, thuốc thú y nằm xen giữa khu dân cư không có khoảng cách an toàn về môi trường đang hoạt động; đáng lo ngại nhiều doanh nghiệp và cơ sở này còn chưa có hệ thống xử lý chất thải, nước thải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường nên càng tăng nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

- Trong chăn nuôi, giết, mổ gia cầm, gia súc

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT năm 2011, cả nước có hàng triệu hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và hàng ngàn trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhưng phần lớn các trang trại không có báo cáo tác động môi trường và chưa xây dựng được hệ thống xử lý chất thải khép kín nên tình trạng ô nhiễm môi trường từ các hộ chăn nuôi, hay trang trại ngày càng trở nên nghiêm trọng. Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước... còn làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng đất, nước, giảm khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn. Bên cạnh đó, nạn dịch lở mồm, long móng, H5N1 đang diễn ra ở nhiều địa phương chưa được khống chế càng làm tăng mối lo ngại đối với tính mạng và sức khỏe của người dân.

Về giết mổ gia súc, gia cầm, theo thống kê của Cục Thú y năm 2011, cả nước có trên 29.000 cơ sở, điểm giết mổ gia súc, gia cầm; trong đó cả nước có gần 630 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm (GSGC) tập trung. Qua khảo sát của Bộ Y tế đối với 434 cơ sở chỉ có 45% là có phép của cơ quan thú y, 35% cơ sở có vệ sinh tiêu độc sau giết mổ. Số cơ sở sử dụng nước máy chiếm 25%, số còn lại sử dụng nước giếng và các nguồn nước khác.

Qua phân tích mẫu nước thải của Bộ Y tế một số lò mổ gần đây cho thấy thông số ô nhiễm vi sinh Coliform từ  1,1.102 - 7,5.108/ml, E.coli từ 1,9.102 - 6,7.108/ml, Clostridium (giống trực khuẩn Gram dương) từ 0,2.102 - 2,1.104/ml, và đều vượt giới hạn cho phép, trên 30% số mẫu phát hiện dương tính với Salmonella. 100% mẫu nước thải đều không đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp về các chỉ tiêu cơ bản như COD (nhu cầu oxi hóa học), BOD (nhu cầu oxi sinh hóa), SS (chất rắn lơ lửng), nitơ tổng số, photpho tổng số. Lượng gây ô nhiễm cao gấp 1,6 lần đến hàng ngàn lần so với quy chuẩn môi trường.

Việc kiểm soát giết mổ ở nhiều địa phương còn bị buông lỏng, mang tính hình thức như việc kiểm tra và dán tem thịt bán tại chợ. Công tác “thú y cộng đồng” chưa được chú trọng, chưa có chương trình giám sát vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm, giám sát bệnh lây giữa người và vật nuôi như bệnh giun bao (Trichinella), gạo lợn, gạo bò (C.bovis; C.cellulosa), bệnh do Leptospira (lợn nghệ), bệnh nhiệt thán (Anthrax), bệnh lao (Tuberculosis) trong quá trình chăn nuôi, giết mổ và sơ chế.

- Trong nuôi trồng, khai thác và chế biến nông, thủy hải sản

Cả nước hiện có 227.514 cơ sở chế biến nông sản, trong đó có 1.253 cơ sở có quy mô công nghiệp, còn lại là quy mô nhỏ, quy mô hộ gia đình. Qua khảo sát cho thấy, đa phần các cơ sở này chưa đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, quá trình vận hành lò hơi trong chế biến đa phần sử dụng than, dầu FO nên thải ra bụi, SO2, NO2, CO… Trong chế biến các loại nông sản như tinh bột sắn, mía đường, đồ uống… còn sử dụng và thải ra rất nhiều nước thải do dùng nhiều nước để rửa và nghiền nguyên liệu, các thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép thường là COD, BOD5, SS, Coliform, các loại thành phần hữu cơ khác; quá trình này tạo ra nhiều loại khí, mùi khó chịu gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người; nguy hiểm hơn khi rất nhiều các cơ sở này lại được xây dựng nằm lẫn trong các khu dân cư.

Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong khoảng 10 năm trở lại đây, không chỉ nuôi ở sông hồ, đầm phá... mà còn tiến ra biển. Đa phần các khu vực nuôi trồng thủy sản thường không có hệ thống thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản nên người nuôi thường sử dụng kênh cấp nước và thoát nước thải chung, do vậy khi dịch bệnh xảy ra ảnh hưởng đến cả vùng nuôi, gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi.

Ô nhiễm hữu cơ là một trong các nguyên nhân làm nghề nuôi trồng thủy sản không bền vững. Theo nghiên cứu của Viện Kinh tế - Quy hoạch thủy sản, hàng năm các nguồn chất thải do nuôi trồng thủy sản ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long thải ra khoảng gần 500 triệu m3 bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản. Riêng chất thải nuôi cá tra, cá ba sa đã trên 2 triệu tấn/năm. Nguồn chất thải độc hại này hiện nay vẫn chưa được xử lý triệt để và thải vào sông rạch trong khu vực.

Về chế biến thủy hải sản, hiện cả nước có khoảng 500 doanh nghiệp chế biến quy mô công nghiệp và hàng ngàn cơ sở chế biến nhỏ lẻ. Qua phân tích các thành phần nước thải tại 184 cơ sở chế biến thủy sản trong một khảo sát gần đây của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì có tới 90% các nhà máy đang gây ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau, các loại chất thải có chỉ tiêu BOD5, tổng Nitơ và Coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ vài lần, đến hàng trăm lần.

Có thể thấy vi phạm pháp luật BVMT trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy, hải sản diễn ra hết sức nghiêm trọng và tác động của chúng đối với môi trường và sức khỏe con người là không nhỏ. Qua khảo sát chúng tôi thấy những vi phạm pháp luật về cơ bản xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

- Văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực này còn thiếu, hạn chế và chồng chéo, đặc biệt giữa các Bộ, ngành dẫn đến sự chỉ đạo chưa thống nhất và không mang tính đồng thuận nên khó áp dụng trên thực tiễn.

- Cơ chế, chính sách khuyến khích sản xuất an toàn trên thực tế chưa được triển khai hiệu quả. Nhiều địa phương, công tác BVMT trong sản xuất nông nghiệp còn chưa được các cấp chính quyền quan tâm, bỏ ngỏ cho các cơ quan chuyên môn và triển khai mang tính hình thức nên không kịp thời ngăn ngừa sai phạm và tác động tiêu cực đến môi trường. Công tác quy hoạch và triển khai vùng sản xuất an toàn, xây dựng cơ sở giết mổ tập trung xa khu dân cư còn chậm. Hoạt động giết mổ lậu, giết mổ mất vệ sinh không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm còn tồn tại phổ biến nhưng chưa có biện pháp xử lý kịp thời.

- Lãnh đạo các cấp chưa thực sự quan tâm đến công tác BVMT trong lĩnh vực này, chưa quy hoạch và di rời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi các khu dân cư và có những biện pháp xử lý kịp thời để hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động này đối với môi trường và sức khỏe con người.

- Mặc dù nhiều hành vi vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng, gây hậu quả rất lớn đối với môi trường và sinh vật sống, nhưng khó xử lý hình sự do thiếu văn bản pháp luật hướng dẫn, hoặc thiếu định lượng cụ thể. Chế tài hình phạt thực tế chưa đủ nặng và mang tính răn đe đối với tội phạm và vi phạm pháp luật BVMT trong sản xuất nông nghiệp, hiện tại mới chỉ xử phạt hành chính. Việc không xử lý kịp thời và không nghiêm khắc dẫn đến tính răn đe không cao, tính phòng ngừa không hiệu quả. 

- Đối với lực lượng CSMT, đội ngũ cán bộ trong lực lượng chưa được đào tạo cơ bản để quản lý và đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Lãnh đạo CSMT của nhiều địa phương chưa thực sự được quan tâm công tác này dẫn đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa kịp thời, chưa tiến hành được hoạt động phân loại, xác định các cơ sở, lĩnh vực hay ngành nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nguy cơ lây lan phát tán dịch bệnh, hay xác định những đối tượng, hành vi vi phạm điển hình để tập trung đấu tranh; hầu như công tác đấu tranh chỉ được tiến hành khi phát hiện sai phạm nên tính chủ động phòng ngừa đấu tranh không cao. Còn thiếu những buổi tập huấn pháp luật và phổ biến những phương thức phạm tội chủ yếu và phổ biến của loại tội phạm này.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật BVMT còn hạn chế, nhiều địa phương còn chưa từng tiến hành; thậm chí cán bộ CSMT còn chưa nắm được những văn bản có liên quan đến công tác quản lý lĩnh vực này nên khó có thể tiến hành và làm tốt công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật.

- Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm chưa được chú trọng, chưa có hệ thống thanh tra chuyên ngành, hoạt động kiểm tra, thanh tra chưa được tiến hành thường xuyên và chủ động, còn chạy theo vụ việc chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về BVMT trong lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm.

- Mối quan hệ giữa các lực lượng thực thi pháp luật để quản lý và đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này chưa được quan tâm đúng mức, mới chỉ chạy theo vụ việc, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

Vi phạm pháp luật BVMT trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, chế biến thủy hải sản diễn ra rất nghiêm trọng, tác động của nó không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là sức khỏe, tính mạng của người dân. Đã đến lúc các ngành, các cấp cần phải quan tâm và tập trung để giải quyết tình trạng này. Để nâng cao hiệu quả công tác BVMT và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này hơn bao giờ hết chúng ta cần ưu tiên giải quyết những nguyên nhân nảy sinh vi phạm pháp luật và hạn chế như đã đề cập trên.

TS. ĐỖ ANH TUẤN - Phó trưởng khoa Nghiệp vụ CSPCTP về môi trường - Học viện CSND

HOÀNG THỊ THANH XUÂN - Giảng viên Khoa Nghiệp vụ CSPCTP về môi trường  - Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 11/2012

---------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tổng kết năm 2009-2011 của Cục CSMT.

2. Báo cáo chuyên đề về một số vụ điển hình vi phạm pháp luật BVMT trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, làng nghề và những tác động của nó đối với công tác BVMT của Cục CSMT năm 2011.

3. Nguyễn Khoa Lý, Ô nhiễm môi trường trong hoạt động chăn nuôi thú y và giải pháp khắc phục, Cục Thú y - Bộ Y tế, website www.environment.mard.gov.vn

4. Nguyễn Song Tùng, Một số vấn đề môi trường bức xúc trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu Môi Trường, website www.iesd.gov.vn

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi