Thứ Hai, 25/6/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số quy định của pháp luật về tội phạm công nghệ cao

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin bùng phát với việc phát minh ra máy tính điện tử (Computer) vào cuối thế kỷ XX và sự bùng phát của mạng thông tin toàn cầu (Internet). Cùng với cuộc cách mạng cũng phát triển những khái niệm, những từ ngữ mới đã trở nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày như: Mạng thông tin toàn cầu (Internet), thư điện tử (E-mail), thông tin di động (Mobile phone), thương mại điện tử (E-Commercial), công nghệ số (Digital technology), công nghệ không dây (Wifi, Bluetooth), trò chuyện trên mạng (Chatting), trò chơi trên mạng (Game online)… Nhưng cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, khi càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận thì những thành tựu đó cũng bị lợi dụng, sử dụng để thực hiện tội phạm hoặc là mục tiêu tấn công của tội phạm. Các thành tựu do công nghệ thông tin đem lại cũng không nằm ngoài quy luật đó và thuật ngữ tội phạm công nghệ cao ra đời cùng với sự xuất hiện và phát triển của công nghệ thông tin. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về tội phạm công nghệ cao, ngay về tên gọi hiện nay có rất nhiều thuật ngữ khác nhau như: tội phạm công nghệ cao, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lợi dụng công nghệ cao... Đây là những khái niệm mới không chỉ đối với Việt Nam mà cả với nhiều nước trên thế giới, do vậy, ngay từ việc sử dụng thuật ngữ đến việc đưa ra khái niệm, đặc điểm đến việc xếp những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào vào danh sách của loại tội phạm mới này cũng còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Cho đến nay, ở Việt Nam đang có nhiều cách hiểu về tội phạm này. Có ý kiến cho rằng, tội phạm công nghệ cao là các tội phạm mà khách thể của tội phạm xâm hại đến hoạt động bình thường của máy tính và mạng máy tính quy định tại các điều 224, 225, 226a, 226b của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); ý kiến khác lại cho rằng, tội phạm sử dụng công nghệ cao là khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội sử dụng công nghệ thông tin làm công cụ, phương tiện hoặc thủ đoạn để thực hiện hành vi phạm tội…

Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tiếp cận dưới góc độ tội phạm công nghệ cao chỉ là tội phạm được thực hiện và gây hậu quả trên môi trường ảo, thế giới ảo do thành tựu của khoa học công nghệ tin học đem lại và nó hoàn toàn khác với các loại tội phạm truyền thống trước kia. Phương pháp tiếp cận này tuy có ưu điểm là định rõ được tội danh cần xử lý nhưng lại có nhược điểm là rất dễ bỏ sót những hành vi nguy hiểm cho xã hội cần được coi là tội phạm, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ trong tình hình hiện nay. Bộ Luật hình sự năm 1999 quy định 3 tội danh có liên quan đến máy tính, mạng máy tính tại các điều 224 (Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi - rút tin học), 225 (Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử), 226 (Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính) gồm các hành vi: tạo ra và cố ý lan truyền, phát tán các chương trình vi-rút qua mạng máy tính hoặc bằng các phương thức khác gây rối loạn hoạt động, phong tỏa hoặc làm biến dạng, làm hủy hoại các dữ liệu của máy tính (hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm); vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính gây rối loạn hoạt động, phong tỏa hoặc làm biến dạng, làm hủy hoại các dữ liệu của máy tính (hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm); sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính, cũng như đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng (hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm). Đến năm 2009, Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung, trong đó có sửa đổi, bổ sung các tội danh có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, gồm các điều 224 (Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số), điều 225 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số), điều 226 (Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet), 226a (Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác), 226b (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản) bao gồm các hành vi: cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số; ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái với quy định của pháp luật; mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó; hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet; cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ.

Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 cũng chưa thể bảo đảm quy định hết các hành vi nguy hiểm cho xã hội có liên quan đến tội phạm máy tính, tội phạm mạng máy tính cần được coi là tội phạm công nghệ cao. Ví dụ, như hiện nay đang tranh cãi về việc có coi hành vi trộm cắp, lừa đảo tài sản (như kiếm, áo giáp… trong các trò chơi ảo) mà người chơi game có được khi chơi trò chơi trực tuyến hay không. Dưới góc độ pháp luật quy định về tài sản thì “tài sản ảo” này không có giá trị vì nó chỉ là sản phẩm do những người chơi game nghĩ ra và xây dựng lên thông qua phần mềm máy tính. Tuy nhiên, những “tài sản ảo” này có thể quy đổi ra giá trị thực khi người chơi này bán cho người chơi khác như những tài sản vật chất khác nên khi bị xâm hại, người chơi game bị thiệt hại như những tài sản vật chất khác và có nên đặt vấn đề pháp luật cần phải bảo vệ những “tài sản ảo” này như những tài sản thực khác.

Để đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm công nghệ cao, cần tiếp cận về tội phạm này trên phạm vi rộng, việc phân loại thế nào là tội phạm công nghệ cao cần dựa trên vai trò của công nghệ thông tin, được thực hiện qua hệ thống máy tính, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Theo đó, tội phạm công nghệ cao gồm những tội phạm có sự liên quan của công nghệ thông tin với ba vai trò sau: sử dụng công nghệ thông tin làm mục đích của tội phạm; sử dụng công nghệ thông tin làm công cụ phạm tội; sử dụng công nghệ thông tin để cất giấu, lưu trữ, phát tán những tư tưởng đối lập, chống phá nhà nước; tuyên truyền văn hóa phẩm độc hại, đồi trụy... Theo quan điểm này thì rất nhiều loại tội phạm truyền thống có thể được coi là tội phạm công nghệ cao. Tuy nhiên, quan điểm này cũng vấp phải một vấn đề khó khăn đó là cụ thể hóa các hành vi phạm tội để từ đó xác định tội danh cụ thể cho các hành vi này. Đây là công việc không dễ dàng vì đối với tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin, khi định tội danh, xét về bản chất nhiều tội danh lại trùng với các tội danh khác như tội khủng bố, tài trợ khủng bố, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, đánh bạc, môi giới mại dâm…, có khác chăng là việc sử dụng công nghệ thông tin làm công cụ phạm tội. Đây hiện được xem là một trong những thách thức mới đối với các nhà làm luật cũng như các cơ quan thực thi pháp luật trong việc định ra những quy định phù hợp để có thể phòng ngừa, đấu tranh một cách có hiệu quả loại tội phạm mới đặc biệt nguy hiểm này.

Bên cạnh việc xác định các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm công nghệ cao, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này đòi hỏi công tác lập pháp và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cần có những đổi mới phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và sự phát triển của khoa học, công nghệ.

Đối với những tội phạm công nghệ cao thì biện pháp hữu hiệu nhất để tìm ra đối tượng phạm tội chính là sử dụng công nghệ thông tin để truy tìm (ví dụ: các chuyên gia tin học có thể sử dụng công nghệ thông tin để tìm ra nơi đã phát tán một thông tin cụ thể lên mạng Internet). Đối chiếu với quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì đây không phải là nguồn chứng cứ nên thực tiễn đấu tranh chống loại tội phạm này, Cơ quan điều tra chỉ sử dụng những thông tin, tài liệu thu thập được nêu trên làm tài liệu tham khảo và phải có quá trình chuyển hóa những tài liệu này thành chứng cứ. Trường hợp về mặt khoa học, mặc dù có thể khẳng định việc truy tìm đối tượng phạm tội bằng biện pháp công nghệ thông tin bảo đảm tính chính xác, nhưng những thông tin, tài liệu được thu thập bằng biện pháp này không có giá trị chứng minh vì không bảo đảm tính hợp pháp, ví dụ: khi tiến hành điều tra đối với tội phạm phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng máy tính, để xác định nguồn phát tán vi rút thì việc sử dụng chính công nghệ thông tin để xác định là hữu hiệu nhất, nhưng do quy định của pháp luật tố tụng hình sự chưa công nhận những thông tin, tài liệu khai thác qua việc sử dụng công nghệ thông tin là chứng cứ nên nó không có giá trị chứng minh. Nhiều trường hợp khi đã có những thông tin, tài liệu được thu thập thông qua các nguồn nêu trên, bảo đảm tính chính xác về mặt khoa học nhưng quá trình chuyển hóa gặp khó khăn, đặc biệt đối với những đối tượng phạm tội am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm trong hoạt động phạm tội nên không thể chứng minh được người đã thực hiện hành vi phạm tội dẫn đến vụ án bị bế tắc.

Ngoài ra, những thành tựu tiên tiến của khoa học, công nghệ phục vụ công tác phát hiện, thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm như các phương tiện ghi hình, ghi âm về những tình tiết liên quan đến vụ án, ví dụ: băng ghi hình qua camera bảo vệ về diễn biến vụ cướp tài sản trong ngân hàng, băng ghi âm cuộc đối thoại, bàn bạc về việc thực hiện tội phạm,… có thể được sử dụng trực tiếp là nguồn chứng cứ chứng minh tội phạm. Vì vậy, trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cần quy định theo hướng thừa nhận những thông tin, tài liệu có được thông qua sử dụng công nghệ thông tin, các phương tiện ghi âm, ghi hình là nguồn chứng cứ và được sử dụng trực tiếp để chứng minh trong tố tụng hình sự sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều tra vụ án hình sự nói chung và đấu tranh chống tội phạm công nghệ cao nói riêng.

Để đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm công nghệ cao, ngoài việc sửa đổi, bổ sung những quy định của Bộ Luật hình sự, Bộ Luật tố tụng cũng cần tính tới việc xây dựng Luật phòng, chống tội phạm công nghệ cao để điều chỉnh tập trung, thống nhất về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao nhằm huy động sức mạnh của toàn xã hội vào cuộc đấu tranh này.

Thiếu tướng, GS,TS. NGUYỄN NGỌC ANH - Cục trưởng V19 - Bộ Công an

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học "Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo", Học viện CSND tháng 11/2014


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi