Thứ Ba, 26/9/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Đề xuất hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa

Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có hệ thống sông, kênh dày đặc, tạo thành mạng lưới giao thông đường thủy rất thuận lợi giữa các địa phương và các vùng trong cả nước. GTVT ĐTNĐ đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Với số lượng phương tiện lớn, cùng thuyền viên, người lái phương tiện đông đảo, GTVT ĐTNĐ thực sự có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Mặc dù có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng với hiện trạng luồng lạch còn đi qua nhiều cầu vượt sông có tĩnh không, khoang thông thuyền hạn chế, bến thủy nội địa không phép còn nhiều; phương tiện chưa thực hiện đăng ký, đăng kiểm, thuyền viên, người lái phương tiện không có bằng, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn còn chiếm tỷ lệ cao… Tình trạng phương tiện chở hàng hóa quá vạch dấu mớn nước an toàn, chở vượt quá số người được phép chở trên phương tiện khá phổ biến đang là nguy cơ mất an toàn trong hoạt động GTVT ĐTNĐ.
Để bảo đảm TTATGT ĐTNĐ, Đảng, Nhà nước, các cơ quan địa phương đã có nhiều giải pháp như ban hành văn bản quy phạm pháp luật để làm căn cứ cho hoạt động quản lý, khai thác GTVT ĐTNĐ; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thi hành pháp luật; thanh tra, TTKS, XLVP. Trong đó hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giao thông ĐTNĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng như Luật Giao thông ĐTNĐ do Quốc hội thông qua năm 2004 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014 là văn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao nhất trong quản lý ĐTNĐ. Luật giao thông ĐTNĐ đã đề cập và điều chỉnh khá đầy đủ những nội dung chủ yếu trong hoạt động giao thông ĐTNĐ, tạo cơ sở pháp lý để thiết lập trật tự an toàn giao thông ĐTNĐ, khai thác tốt tiềm năng thiên nhiên và phát huy nguồn lực của mọi thành phần kinh tế đầu tư khai thác GTVT ĐTNĐ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế ngày càng cao. Cùng với Luật Giao thông ĐTNĐ, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành được ban hành đã tạo nên bộ khung pháp lý đây là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phối hợp cùng chính quyền các địa phương tổ chức sắp xếp bộ máy quản lý cho phù hợp đưa hoạt động giao thông ĐTNĐ từng bước đi vào ổn định và phát triển.
Với khối lượng văn bản quy phạm pháp luật khá đồ sộ, nhưng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về GTVT ĐTNĐ chưa có một văn bản riêng để điều chỉnh về TTATGT. Mà hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật giao thông ĐTNĐ đều chứa đựng nhiều quy phạm có nội dung về TTATGT.
Trong những năm qua, TNGT ĐTNĐ đã giảm nhiều so với những năm chưa có Luật Giao thông ĐTNĐ. Tuy nhiên số vụ tai nạn nghiêm trọng vẫn còn nhiều, nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn xảy ra trong thời gian qua là do thuyền viên, người lái phương tiện bất cẩn, tránh va sai quy định, phương tiện không đảm bảo chất lượng, sử dụng phương tiện kinh doanh không đúng chủng loại, không đúng mục đích. Mọi hoạt động khai thác, kinh doanh vận tải ĐTNĐ đều được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, theo hướng quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn của các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, tiêu chuẩn, điều kiện và trách nhiệm, nghĩa vụ của phương tiện, thuyền viên, người lái phương tiện, quy tắc giao thông, vận tải thủy nội địa. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện, trong đó việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, người dân đóng vai trò hết sức quan trọng. 
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp còn hạn chế, cụ thể là các hành vi như mở bến thủy kinh doanh nhưng không có giấy phép hoạt động; sử dụng phương tiện thuộc diện đăng ký, đăng kiểm nhưng không thực hiện đăng ký, đăng kiểm; điều khiển phương tiện không có bằng, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn, hoặc có bằng, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn nhưng điều khiển loại phương tiện không phù hợp với hạng bằng, giấy chứng nhận; vận chuyển hàng hóa vượt quá vạch dấu mớn nước an toàn, chở vượt quá số người được phép chở trên phương tiện; không tuân thủ quy tắc giao thông; đưa phương tiện (bè nổi, nhà hàng nổi, khách sạn nổi) vào khai thác không đúng công dụng, mục đích và không đăng ký kinh doanh.

CSGT đường thủy kiểm tra tình hình đưa khách phà trên địa bàn

Bên cạnh những hạn chế do ý thức chủ quan của người tham gia khai thác giao thông nêu trên thì công tác quản lý, điều hành của chính quyền ở một số địa phương còn thiếu sự quan tâm, hoạt động thanh tra, kiểm tra, XLVP của lực lượng chức năng có nơi, có lúc còn chưa thường xuyên, triệt để cũng tác động không nhỏ đến ý thức chấp hành pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Mặc dù đã điều chỉnh khá đầy đủ và toàn diện quan hệ phát sinh trong quản lý, khai thác GTVT, tuy nhiên, một số hoạt động còn chưa được đề cập hoặc có đề cập nhưng đã bộc lộ bất cập cần phải thiết lập, điều chỉnh trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giao thông ĐTNĐ. Cụ thể, như việc quy định về phạm vi trách nhiệm của cơ quan quản lý chuyên ngành trung ương với địa phương, giữa hàng hải, ĐTNĐ còn đan xen, “xắt khúc”. Trên cùng một đoạn sông, kênh có nhiều chủ thể tham gia quản lý, và nếu không phối hợp chặt chẽ sẽ dẫn đến bỏ trống địa bàn, bỏ trống đối tượng trong quản lý; quy định giao UBND cấp tỉnh phê duyệt, tổ chức thực hiện quy hoạch bến thủy nội địa, bao gồm cả bến thủy nội địa trên tuyến ĐTNĐ quốc gia là chưa phù hợp. Thực tế, đến nay mới có 05 địa phương có quy hoạch bến thủy nội địa, hệ lụy của việc quy hoạch chậm là bến thủy hoạt động chưa được cấp phép còn chiếm tỷ lệ cao, phương tiện vào, rời bến thủy chưa được cấp phép không được kiểm soát thường xuyên nên có nhiều vi phạm mà không được xử lý; việc kiểm soát phương tiện vận tải tại các mỏ khai thác cát, sỏi chưa được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên, vì chưa xem các mỏ khai thác cát, sỏi là bến bốc xếp hàng hóa (cát, sỏi), nên không thể kiểm tra thường xuyên các phương tiện vận chuyển cát, sỏi tại mỏ khai thác. Vì vậy phương tiện vận tải cát, sỏi từ mỏ khai thác hầu hết đều chở quá vạch dấu mớn nước an toàn; đối với phương tiện vận tải, về điều kiện kinh doanh, Chính phủ mới quy định phương tiện vận tải hành khách theo tuyến cố định và theo hợp đồng chuyến khi hoạt động từ bờ ra đảo hoặc giữa các đảo phải lắp thiết bị nhận dạng tự động - AIS (AIS Automatically Identification System) là hệ thống thông tin liên lạc trợ giúp, cho phép các phương tiện trao đổi những thông tin về nhận dạng vị trí, hướng, tốc độ với nhau hoặc trao đổi với các trạm trên bờ. Những thông tin này giúp các phương tiện trong khi hành trình tránh bị va chạm với nhau, ngoài ra có thể trao đổi các thông tin như trợ giúp khi có sự cố, thông tin thời tiết... Khi kết hợp AIS với một thiết bị thông tin liên lạc khác, AIS còn được ứng dụng trong các trường hợp khẩn cấp, cứu hộ, cứu nạn. Trong khi các phương tiện thủy nội địa hoạt động tuyến ven biển, mang cấp VR-SB và phương tiện vận tải có trọng tải toàn phần trên 500 tấn hoạt động trong vùng SI cũng rất cần có thiết bị nhận dạng tự động. Tuy nhiên, việc lắp thiết bị nhận dạng tự động là một điều kiện cần được Chính phủ quy định.
Để khắc phục những bất cập nêu trên, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về giao thông ĐTNĐ, Cục ĐTNĐ Việt Nam đã tham mưu Bộ GTVT kiến nghị Chính phủ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cho phép xây dựng Nghị định quy định quản lý đường thủy nội địa và cảng, bến thủy nội địa, với quan điểm đưa các quy định về quản lý đường thủy nội địa, cảng bến thủy nội địa
Giải quyết các vấn đề về chồng lấn, đan xen địa bàn quản lý, phân định cụ thể, rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và giữa các bộ, ngành; cải cách thủ tục hành chính, giảm thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tham gia khai thác giao thông tuân thủ và chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, đồng thời khắc phục được tình trạng quản lý thiếu đồng bộ, bỏ trống địa bàn, bỏ trống đối tượng quản lý.
Thứ hai, quy định rõ về quan hệ phối hợp trong quản lý đường thủy nội địa
Quy định trách nhiệm trong việc quản lý, phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành, địa phương đối với hoạt động khai thác cát, sỏi hoặc khoáng sản khác trên ĐTNĐ. Tổ chức quản lý chặt chẽ phương tiện vận tải cát, sỏi từ nơi khai thác, khắc phục tình trạng phương tiện vận chuyển cát, sỏi quá vạch dấu mớn nước an toàn, gây mất ATGT. Trước mắt, Cục ĐTNĐ Việt Nam đã trình Bộ GTVT cho phép thí điểm tổ chức quản lý phương tiện vận tải cát, sỏi từ các mỏ khai thác.
Thứ ba, đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 quy định điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa
Theo hướng bổ sung quy định các phương tiện thủy nội địa có trọng tải toàn phần từ trên 500 tấn trở lên khi hoạt động ven biển, từ bờ ra đảo, giữa các đảo đều phải lắp thiết bị nhận dạng từ động, nhằm kiểm soát tốt điều kiện hoạt động của phương tiện, phối hợp thông tin, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ. Cục ĐTNĐ Việt Nam đã xây dựng Đề án Lắp đặt thiết bị tự động tự động nhận dạng và trang bị VHF trên phương tiện thủy nội địa báo cáo Bộ GTVT để báo cáo Chính phủ.
Thứ tư, vận động cả hệ thống chính trị và nhân dân thực hiện các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa
Để bảo đảm TTATGT ĐTNĐ, hạn chế tai nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, của Nhà nước, bên cạnh hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác giao thông ĐTNĐ và cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, thì công tác tổ chức thực hiện các quy định trong Luật về giao thông ĐTNĐ có ý nghĩa quyết định. Chúng ta không chỉ xem công tác bảo đảm TTATGT là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị... Mà trong đó phải xác định các cơ quản quản lý chuyên ngành, UBND các cấp là nòng cốt. Phân định rõ phạm vi trách nhiệm, phạm vi thẩm quyền để quản lý, điều hành hoạt động khai thác giao thông ĐTNĐ. Đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các địa phương.

 

Hoàng Hồng Giang
Cục trưởng Cục ĐTNĐ Việt Nam

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi