Thứ Bảy, 25/11/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa

Việt Nam có hệ thống sông ngòi vô cùng phong phú và đa dạng, với 3.551 con sông, kênh chảy ra biển thông qua 124 cửa sông, với tổng chiều dài 80.577 km, trong đó có khoảng 42.000 km sông, kênh có khả năng khai thác vận tải thường xuyên; 3.260 km ven biển, gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên diện tích hơn một triệu km2 mặt biển với hàng nghìn km đường từ đất liền ra đảo, nối các đảo, rất thuận lợi cho giao thông đường thủy phát triển, kết nối Việt Nam với các nước trên thế giới và giữa các tỉnh, thành phố với nhau. Nhằm phát huy thế mạnh của hệ thống giao thông đường thủy nội địa (GTĐTNĐ), đa dạng hóa các loại hình vận tải, giảm tải cho vận tải đường bộ, trong nhiều năm qua Đảng, Nhà nước đã luôn quan tâm, khuyến khích phát triển GTĐTNĐ và đưa phát triển GTĐTNĐ vào chiến lược phát triển giao thông của Việt Nam. Đến nay, 19.257 km ĐTNĐ đã được đưa vào khai thác, quản lý, đảm nhiệm vận chuyển khoảng 21% tổng khối lượng vận tải toàn quốc và tiến tới đạt 32,38% vào năm 2020. Song song với việc phát triển hệ thống GTĐTNĐ, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT ĐTNĐ cũng luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm thông qua việc ban hành nhiều luật, nghị định, chỉ thị như Luật GTĐTNĐ năm 2004; Chỉ thị số 18-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) đường bộ, đường sắt, ĐTNĐ; Nghị định số 110/2014/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh vận tải ĐTNĐ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GTĐTNĐ; Nghị định số 132/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 93/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐTNĐ…
Công tác quy hoạch, xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐTNĐ đã được Nhà nước quan tâm đầu tư kinh phí, nhiều tuyến ĐTNĐ mới đã được công bố đưa vào khai thác, quản lý. Đặc biệt việc đưa vào khai thác tuyến vận tải ven biển, tuyến vận tải qua biên giới Việt Nam - Campuchia đã gắn kết mạng lưới giao thông địa phương với mạng giao thông vận tải quốc gia và quốc tế để chủ động hợp tác, hội nhập khu vực và quốc tế.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về GTĐTNĐ đã được các Bộ, ngành chức năng, chính quyền các cấp đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú. Với vai trò nòng cốt, lực lượng Công an đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như Cuộc vận động xây dựng phong trào "Văn hóa giao thông với bình yên sông nước", cuộc vận động "Đi đò mặc áo phao"; phối hợp với các báo, đài đưa tin phản ánh, cập nhật tình hình GTĐTNĐ, tuyên truyền phổ biến pháp luật về TTATGT ĐTNĐ trên các bản tin, phóng sự, chuyên mục "Vì bình yên sông nước" trên Đài tiếng nói Việt Nam; thi sáng tác ca khúc về an toàn giao thông...; tổ chức tọa đàm, hội nghị, hội thảo với quy mô và các cấp khác nhau.
Công tác quản lý phương tiện thủy, thuyền viên và người lái phương tiện thủy đã được Bộ GTVT và UBND các địa phương đặc biệt quan tâm và đưa công tác này đi vào nề nếp. Nhiều văn bản quy định về công tác đăng ký, đăng kiểm được ban hành để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, xóa bỏ những thủ tục không cần thiết, giảm phí và lệ phí, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia GTĐTNĐ chấp hành quy định của pháp luật về đăng ký, đăng kiểm phương tiện thủy. Do đó, số phương tiện thủy được đăng ký, đăng kiểm tăng nhanh qua các năm góp phần đảm bảo an toàn trên ĐTNĐ trong thời gian qua.
Công tác thanh tra, xử lý vi phạm về TTATGT ĐTNĐ đã được các lực lượng (Cảnh sát đường thủy, Thanh tra giao thông và Cảng vụ) thực hiện thường xuyên, hiệu quả; trật tự, kỷ cương của hoạt động GTĐTNĐ dần được thiết lập ổn định; các tuyến, địa bàn trọng điểm phức tạp về TTATGT đường thủy được giải quyết. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý TTATGT trên đường thủy vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:
1. Tình hình TNGT ĐTNĐ vẫn chưa được kiềm chế, tai nạn đặc biệt nghiêm trọng vẫn xảy ra gây thiệt hại lớn về tài sản và con người. 
2. Tình trạng các công trình xây dựng, khai thác cát sỏi, khoáng sản, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, họp chợ… lấn chiếm luồng, hành lang bảo vệ luồng và làm thay đổi dòng chảy vẫn diễn biến phức tạp. 
3. Việc quy hoạch hệ thống cảng, bến thủy nội địa, các khu vực khảo sát thăm dò khai thác tài nguyên cát, sỏi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, họp chợ, làng chài... thực hiện chưa hợp lý, lấn chiếm luồng và hành lang bảo vệ luồng, làm thay đổi dòng chảy. Công tác điều tiết khống chế, kiểm tra, bổ sung báo hiệu đường thủy chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời, nhất là tại nơi có mật độ giao thông cao, luồng lạch khan cạn, thay đổi luồng chạy tàu, nơi thi công các công trình có ảnh hưởng đến ATGT ĐTNĐ. 
4. Công tác quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa cũng còn nhiều bất cập. Mức phạt hành chính đối với hành vi đưa bến thủy nội địa vào hoạt động mà không có giấy phép hoạt động của cơ quan có thẩm quyền hiện nay còn quá nhẹ, không đủ sức răn đe. Lực lượng quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa là Cảng vụ đường thủy còn thiếu, địa bàn quản lý rộng nên công tác quản lý nhà nước nhiều nơi còn buông lỏng.
5. Công tác quản lý phương tiện cũ, đăng kiểm, đăng ký chưa đảm bảo chặt chẽ như các phương tiện cũ được tự đóng, phương tiện hoán cải không có hồ sơ thiết kế; các phương tiện đã được mua bán qua nhiều chủ, qua nhiều địa phương nên không tìm lại được chủ cũ, cơ sở đã đóng phương tiện; chi phí đăng kiểm lần đầu cao trong khi các phương tiện này thường hoạt động trong phạm vi hẹp làm cho chủ phương tiện gặp nhiều khó khăn về thủ tục đăng kiểm, chưa tự giác chấp hành quy định về đăng kiểm phương tiện. 
6. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đạt kết quả chưa cao, do cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, kinh phí được trang cấp cho lực lượng chức năng còn hạn chế. Chưa có nơi tạm giữ phương tiện vi phạm, biện pháp hạ tải hợp lý. Phương tiện bị tạm giữ chủ yếu được giữ tại bến của lực lượng xử lý không đảm bảo điều kiện trông giữ, nhất là trong mùa mưa bão nên các lực lượng chức năng ngại ra quyết định tạm giữ phương tiện. 
Để GTĐTNĐ phát triển an toàn và bền vững, các Bộ, ngành chức năng, chính quyền các cấp cần triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về TTATGT ĐTNĐ, trước mắt cần tập trung thực hiện những nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong chỉ đạo điều hành
Cần xác định công tác bảo đảm TTATGT đường thủy là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong khi việc giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT đường thủy của người dân cần phải có thời gian để chuyển biến thì nhiệm vụ quan trọng, trước mắt để bảo đảm hoạt động GTĐTNĐ được an toàn, thuận lợi và phát triển bền vững là tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, gắn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, đơn vị và các lực lượng thực thi công vụ, làm nhiệm vụ trên ĐTNĐ để nâng cao năng lực, hiệu quả công tác, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các nguyên nhân dẫn đến mất TTATGT, TNGT ĐTNĐ. Việc nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của GTĐTNĐ cũng như công tác bảo đảm TTATGT ĐTNĐ cần được quán triệt sâu sắc trong các cấp ủy Đảng và chính quyền, các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT ĐTNĐ. Bên cạnh đó, cần kiện toàn tổ chức, bố trí đủ biên chế cho các đơn vị có chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về GTĐTNĐ. Thành lập bộ máy quản lý chuyên trách về hoạt động GTĐTNĐ thuộc Sở GTVT (trừ TP. Hà Nội và TP.Hồ Chí Mình đã thành lập). Căn cứ vào hiện trạng, đặc điểm GTĐTNĐ và nhu cầu thực tế của địa phương, có thể thành lập Cảng vụ ĐTNĐ thuộc Sở GTVT đảm bảo phủ kín hoạt động quản lý nhà nước chuyên ngành tại các cảng, bến thủy nội địa, không bỏ trống địa bàn. Phối hợp các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra công vụ, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm các quy định trong khi thực thi công vụ, đặc biệt là những trường hợp tiếp tay, bao che, dung túng các sai phạm, gây hậu quả nghiêm trọng.

Tăng cường công tác chỉ đạo trong công tác bảo đảm an toàn giao thông đường thủy. Ảnh minh họa

Thứ hai, rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giao thông đường thủy nội địa
Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm TTATGT ĐTNĐ cần ưu tiên, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tự giác chấp hành quy định của pháp luật về TTATGT ĐTNĐ; xử lý vi phạm hành chính đủ sức răn đe, ngăn chặn; quy định trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân khi để xảy ra sai phạm... Cần nghiên cứu, sửa đổi một số quy định về hành lang bảo vệ luồng chạy tàu; quy định về công tác quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa; quy định về đăng ký, đăng kiểm phương tiện thủy, nhất là mở hướng cho các phương tiện cũ đảm bảo an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường được đăng ký, đăng kiểm để đưa vào quản lý; đề xuất tăng nặng mức xử phạt, bổ sung hình thức phạt bổ sung đối với một số hành vi vi phạm hành chính là nguyên nhân chính gây mất TTATGT, TNGT ĐTNĐ như cảng, bến hoạt động không phép; phương tiện không đăng ký, đăng kiểm; thiếu trang thiết bị, dụng cụ cứu sinh, cứu đắm; thuyền viên không có bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp với phương tiện; chở hàng quá khổ, quá trọng tải, quá số người quy định; xếp dỡ hàng hóa, đón trả hành khách tại các cảng, bến chưa được công bố, cấp phép hoạt động hoặc không đúng nơi quy định...
UBND các địa phương chưa xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển GTVT ĐTNĐ; chưa quy hoạch hệ thống cảng, bến thủy nội địa, các khu vực khảo sát thăm dò khai thác tài nguyên, cát, sỏi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, họp chợ, làng chài... cần khẩn trương triển khai thực hiện để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TTATGT ĐTNĐ địa phương.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa cho những người tham gia giao thông, sinh sống và làm việc trên đường thủy nội địa
Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền cho phù hợp với đối tượng cần tuyên truyền như tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền cộng đồng thông qua các buổi tọa đàm, hội nghị, hội thảo chuyên đề, phát động phong trào...; tuyên truyền trực quan bằng pa-no, khẩu hiệu, tranh, ảnh cổ động, tờ rơi...; tuyên truyền cá biệt thông qua công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về TTATGT ĐTNĐ. Để truyền tải hiệu quả nội dung tuyên truyền giúp người dân hiểu đúng và làm đúng pháp luật về TTATGT ĐTNĐ cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; thu hút các nhà khoa học, chuyên gia tham gia nghiên cứu các giải pháp bảo đảm TTATGT ĐTNĐ, xây dựng nội dung tuyên truyền; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở tất cả các cấp chính quyền, các cơ quan, tổ chức làm công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ĐTNĐ; đào tạo kỹ năng tuyên truyền, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người dân để mỗi cán bộ là một tuyên truyền viên giỏi. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Cuộc vận động xây dựng phong trào “Văn hóa giao thông với bình yên sông nước” giai đoạn 2016-2020.
Sử dụng chức năng giáo dục của hệ thống nhà trường để đưa nội dung tuyên truyền pháp luật về GTĐTNĐ vào các cấp học thông qua các buổi sinh hoạt, học ngoại khóa, chú trọng đến các trường ở vùng sông nước, có nhiều học sinh hàng ngày đi học bằng phương tiện thủy. Phát động các cuộc thi tìm hiểu, tuyên truyền phổ biến pháp luật về TTATGT ĐTNĐ trong học sinh, sinh viên.
Thứ tư, tăng cường đầu tư, nâng cao điều kiện an toàn của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa và tổ chức giao thông khoa học, hợp lý
UBND cấp tỉnh cần khẩn trương khảo sát, xây dựng và điều chỉnh quy hoạch hệ thống Cảng ĐTNĐ khu vực phía Nam, khu vực phía Bắc cho phù hợp, chú ý đầu tư phát triển GTVT ven biển; ưu tiên bố trí ngân sách một cách hợp lý để đầu tư nâng cao điều kiện an toàn của hệ thống kết cấu hạ tầng GTĐTNĐ; nghiên cứu các giải pháp để huy động vốn đầu tư cho hạ tầng đường thủy; khẩn trương triển khai các dự án đã được duyệt và cấp vốn. Tập trung cải tạo, nâng cấp các tuyến, luồng chính, có mật độ phương tiện thủy cao để nâng cao hoạt động vận tải của các phương tiện thủy; tận dụng điều kiện tự nhiên sẵn có kết hợp với cải tạo để khai thác các cảng, bến thủy đạt hiệu quả. 
Tăng cường các giải pháp nâng cao điều kiện an toàn của hệ thống kết cấu hạ tầng GTĐTNĐ như: thường xuyên kiểm tra luồng tuyến; điều chỉnh hệ thống báo hiệu phù hợp với diễn biến thực tế của luồng, tuyến; duy tu, bảo trì báo hiệu, đèn hiệu đảm bảo màu sắc, ánh sáng cho phương tiện vận tải giao thông được an toàn; thanh thải chướng ngại vật trên luồng ĐTNĐ tại khu vực cảng đầu mối trọng điểm; giải tỏa các điểm khai thác cát trái phép, đăng đáy khai thác thủy sản, phương tiện nuôi trồng thủy sản, hoạt động lấn chiếm luồng ĐTNĐ; khảo sát, cấp phép tạm cho những bến hiện đang hoạt động không phép nhưng đảm bảo điều kiện an toàn để đưa vào quản lý, góp phần giảm thiểu nguy cơ tai nạn; tăng cường công tác điều tiết, khống chế bảo đảm ATGT và chống va trôi tại các tuyến đường thủy có mật độ giao thông cao, luồng khan cạn, nơi thi công các công trình vượt sông, tại các cầu có tĩnh không thấp, chiều rộng khoang thông thuyền không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, các khu vực trọng điểm mùa lũ và luồng hẹp khan cạn trong mùa cạn.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả công tác quản lý chuyên ngành tại cảng, bến thủy nội địa và siết chặt quản lý kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện thủy
Cảng vụ ĐTNĐ cần tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường của phương tiện, tàu biển; kiểm tra giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên và người lái phương tiện. Siết chặt kiểm tra điều kiện kinh doanh vận tải thủy nội địa đặc biệt là hoạt động vận tải khách du lịch, vận tải hành khách ngang sông, vận tải hành khách theo tuyến cố định, hoạt động chở khách bằng tàu cao tốc, hoạt động vận tải hàng hóa... Kiên quyết không cho phương tiện, tàu biển ra, vào cảng, bến thủy nội địa khi cảng, bến hoặc phương tiện, tàu biển không bảo đảm điều kiện an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường. Theo dõi giám sát việc xếp dỡ hàng hóa lên phương tiện thủy và cả các phương tiện cơ giới đường bộ để xử lý tận gốc tình trạng quá tải. Kiểm tra điều kiện an toàn đối với cảng, bến; giám sát việc khai thác, sử dụng cảng, bến bảo đảm an toàn; kiên quyết yêu cầu ngừng khai thác hoặc đề nghị đình chỉ hoạt động khi xét thấy không đảm bảo an toàn. Triển khai hệ thống cấp phép điện tử tại tất cả các cảng, bến thủy nội địa, kết nối với cơ sở dữ liệu về phương tiện và thuyền viên, người lái phương tiện để hỗ trợ kiểm tra thông tin về đăng kiểm của phương tiện, bằng, CCCM của thuyền viên, người lái phương tiện được nhanh chóng, chính xác khi phương tiện làm thủ tục ra, vào cảng, bến, giúp các phương tiện có thể cập bến, rời bến nhanh nhất, giảm thiểu thời gian và chi phí, đồng thời cũng giúp lực lượng Cảng vụ phát hiện, ngăn chặn thuyền viên, người lái phương tiện sử dụng bằng, CCCM giả, phương tiện không đảm an toàn kỹ thuật hoạt động trên ĐTNĐ. Tiếp nhận, thông báo tình hình luồng tuyến từ các đơn vị quản lý ĐTNĐ, các Công ty bảo đảm hàng hải và kịp thời thông báo đến các cảng bến và phương tiện thủy.
Tổ chức cho chủ, người khai thác cảng, bến thủy nội địa ký cam kết đảm bảo an toàn; xây dựng mô hình "Cảng, bến văn hóa giao thông"; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TTATGT ĐTNĐ trên hệ thống phát thanh của cảng, bến.
Nghiên cứu, đề xuất mở rộng loại hình phương tiện bắt buộc phải lắp đặt thiết bị nhận dạng tự động AIS. Từng bước xây dựng hệ thống và trung tâm kiểm soát AIS sớm đưa vào hoạt động để giám sát hoạt động của phương tiện vận tải, hỗ trợ công tác bảo đảm TTATGT và tìm kiếm, cứu nạn trên ĐTNĐ.
Thứ sáu, đẩy mạnh triển khai các biện pháp nâng cao công tác đăng ký, đăng kiểm phương tiện thủy và chất lượng đào tạo, sát hạch, cấp bằng, chứng chỉ chuyên môn
Cần tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, sát hạch cấp bằng, chứng chỉ chuyên môn trên cơ sở nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, camera giám sát trong quá trình đào tạo và thi kiểm tra nhằm khắc phục được các nhược điểm của hình thức thi trên giấy hiện nay. Việc xây dựng phần mềm ngân hàng câu hỏi, đáp án sẽ cho phép không giới hạn số lượng đề thi, không bị trùng lắp đề, trong một đề thi không có câu hỏi trùng nhau; đề thi được tạo ngẫu nhiên cho từng thi sinh giúp cho kỳ thi minh bạch, công bằng; cơ quan chức năng, người có thẩm quyền có thể giám sát từ xa. Cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục cấp mới, cấp đổi bằng, CCCM để người dân tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về bằng, CCCM. Tăng cường kiểm tra công tác tuyển sinh; nội dung, chương trình đào tạo; năng lực giáo viên giảng dạy, hướng dẫn thực hành; phòng học, xưởng và khu thực hành của tất cả các cơ sở đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện. Xử lý nghiêm các cơ sở đào tạo không đủ điều kiện theo quy định, hoạt động khi chưa được cấp giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc đang bị đình chỉ hoạt động nhưng vẫn tổ chức đào tạo.
Tổng điều tra phương tiện thủy nội địa, các đơn vị kinh doanh vận tải thủy làm căn cứ để đổi mới và đẩy nhanh công tác đăng ký, quản lý, kiểm tra an toàn kỹ thuật phương tiện. Nghiên cứu giải pháp tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ chủ phương tiện tự giác chấp hành quy định của pháp luật về đăng ký, đăng kiểm phương tiện thủy, đặc biệt là những phương tiện cũ loại nhỏ chưa đăng ký, đăng kiểm qua đợt tổng điều tra. Chính quyền cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn chủ phương tiện chấp hành quy định về đăng kiểm phương tiện thủy nội địa. Cơ quan đăng kiểm tổ chức đăng kiểm lưu động tại những điểm neo đậu phương tiện, điểm kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính hoặc tại điểm mà chủ phương tiện tự đăng ký với cơ quan đăng kiểm...
Thứ bảy, tăng cường công tác phối hợp kiểm tra liên ngành, thanh tra, kiểm soát và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa
Tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa lực lượng Cảnh sát đường thủy, Cục ĐTNĐ Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các lực lượng khác để phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong công tác nắm tình hình, giải quyết các vấn đề nổi cộm, phức tạp về TTATGT ĐTNĐ; tuyên truyền, phổ biến pháp luật; kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính; điều tra, giải quyết tai nạn GTĐTNĐ và tìm kiếm cứu nạn từ cấp cơ sở đến cấp Cục. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây mất TTATGT, TNGT ĐTNĐ như: phương tiện chở quá tải, quá số người quy định, không đăng ký, đăng kiểm đặc biệt là các phương tiện chở khách, tàu lưu trú du lịch ngủ đêm, nhà hàng nổi, tàu hoạt động từ bờ ra đảo... Từ đó, phát hiện thuyền viên, người lái phương tiện không có bằng, CCCM theo quy định; cảng, bến không phép, không đảm bảo điều kiện an toàn; khai thác khoáng sản, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, xây dựng công trình ảnh hưởng đến luồng và hành lang bảo vệ luồng ĐTNĐ…; phát hiện và khắc phục các "điểm đen" về tai nạn giao thông đường thủy.
Thứ tám, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên đường thủy nội địa
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, phương tiện, công cụ hỗ trợ cho các lực lượng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐTNĐ. Nghiên cứu xây dựng nơi tạm giữ phương tiện thủy vi phạm hành chính để bảo đảm an toàn cho phương tiện bị tạm giữ và tăng tính nghiêm minh của pháp luật. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng ngân hàng dữ liệu về hạ tầng giao thông, về phương tiện, về thuyền viên, người lái phương tiện, về xử lý vi phạm hành chính giúp cho lực lượng Cảng vụ, Thanh tra, Cảnh sát đường thủy dễ dàng xác minh thông tin về phương tiện, con người và phối hợp kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo một quy trình khép kín từ lúc phương tiện xuất bến, hành trình và vào cảng, bến tiếp theo.
Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quản lý, khai thác và nâng cao điều kiện an toàn của kết cấu hạ tầng GTĐTNĐ như ứng dụng bản đồ điện tử IENC (Inland Electronic Navigational Chart) và thiết bị nhận dạng tự động AIS (Automatically Identification System) để hỗ trợ cho việc điều động phương tiện đi đúng luồng, tránh chướng ngại vật đặc biệt là khi phương tiện đi vào luồng hẹp, quanh co khúc khuỷu, tầm nhìn bị hạn chế, và giúp cho các phương tiện nhận biết nhau, tránh va chạm nhau; thiết bị giám sát phao tiêu iBMU giúp các đơn vị quản lý đường thủy giám sát trạng thái hoạt động của phao tiêu, kịp thời thay thế các phao tiêu mất, hỏng.

 

TS. Khuất Việt Hùng
Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban ATGT Quốc gia


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi