Thứ Hai, 25/6/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Kết quả và kinh nghiệm phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao của PC50 - Công an thành phố Hà Nội và những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo cán bộ
Đại tá Lê Hồng Sơn, Trưởng phòng PC50 Công an TP Hà Nội.

1. Tình hình an ninh, an toàn mạng máy tính và tội phạm sử dụng mạng Internet tiếp tục diễn biến rất phức tạp

(1) Hiện nay, lượng người dùng Internet truy cập mạng bằng thiết bị di động đang tăng nhanh chóng. Trong khi đó, các doanh nghiệp và tổ chức lại chưa xây dựng giải pháp bảo mật tổng thể mà chỉ quan tâm đến cách khắc phục từng sự cố, như khi hệ thống nhiễm virus hoặc bị tấn công botnet, DDoS... và phần lớn không tìm ra được hacker xâm nhập bất hợp pháp, lấy cắp dữ liệu. Ngoài ra, sự phổ biến của mạng xã hội như Twitter, Facebook, các trang blogvà wiki cũng làm nảy sinh hàng loạt thách thức cho đảm bảo an toàn thông tin và giao dịch trực tuyến.

(2) Theo thống kê tỉ lệ website tồn tại lỗ hổng tại Việt Nam là 40%, phát hiện các website, trang thông tin điện tử bị hacker tấn công, chiếm quyền quản trị… thiệt hại gần 8.000 tỷ đồng do virus máy tính mỗi năm.Tính từ ngày 15/11/2013 đến 14/10/2014, đã có tổng số 255 website của Việt Nam có tên miền “*.vn” bị tấn công bởi các nhóm hacker. Các website trên bị tấn công bởi 4 nhóm hacker chính: Hmei7, 9i, T.H.E, 1937cn (nhóm hacker Trung Quốc), d3b~X (nhóm hacker Indonesia).

 (3) Tình trạng phát tán các loại virut, phần mềm gián điệp, mã độc ngày càng phức tạp và tinh vi. Đã xuất hiện nhiều biến thể của các loại virut nhằm trộm cắp tài khoản ngân hàng, các kết nối ngầm và các phần mềm gián điệp, mã độc chuyên dùng để đánh cắp thông tin. Đặc biệt với sự phổ biến của các mạng xã hội, blog cá nhân và các loại điện thoại thông minh (smartphone), ngày càng xuất hiện nhiều các loại virut, phần mềm độc hại dưới dạng các ứng dụng được truy cập thường xuyên. Số máy tính bị nhiễm vi rút tính đến tháng 10/2014 khoảng 4.7 triệu máy; dòng virus xuất hiện mới khoảng 4.500 virus.

 (4) Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cuộc tấn công qua mạng Internet phần lớn nhằm trộm cắp thông tin tài khoản ngân hàng, dữ liệu khách hàng và tài sản sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp hoặc chiếm quyền điều khiển hệ thống. Đối với Website của một số ngành và các doanh nghiệp lớn, hacker trong và ngoài nước cũng thường xuyên tấn công, trộm cắp các loại dữ liệu, tài liệu mật hoặc gây nghẽn mạng, làm tê liệt hệ thống, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh và quản lý Nhà nước.

2. Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực thương mại điện tử; thông tin, truyền thông tiếp tục diễn biến phức tạp

2.1. Trong lĩnh vực thương mại điện tử, nổi lên:

(1) Thời gian qua vẫn tồn tại tình trạng nhiều công ty kinh doanh vàng tài khoản trái phép tại Việt Nam (trên quảng cáo vẫn là vàng vật chất); Thủ đoạn phổ biến là tạo dựng các sàn kinh doanh, máy chủ không đặt ở Việt Nam, người chơi truy cập thông qua mạng Internet.

(2) Tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng Internet diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó nổi lên việc thiết lập các Website bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ dưới hình thức kinh doanh đa cấp nhưng thực chất là hoạt động lừa đảo, huy động vốn trái phép nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong thời gian qua đã có hàng trăm Website hoạt động dưới dạng các sàn giao dịch thương mại điện tử tiếp tục được xây dựng và hoạt động nhưng chưa được các cơ quan chức năng cấp phép. Hiện nay, Bộ Công thương mới cấp giấy phép hoạt động cho 136 sàn giao dịch thương mại điện tử, đây là một trong những lĩnh vực trọng điểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lừa đảo.

(3) Phổ biến tình trạng sử dụng mạng Internet, Facebook để buôn bán hàng lậu (hàng xách tay), hàng giả (hàng face), hàng cấm, ma túy, vũ khí, tài sản do phạm tội mà có, văn bằng giấy tờ giả… hoặc lập các các diễn đàn để trao đổi, mua bán phần mềm “lậu”, vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ, phát tán phim lậu, phim sex… Bên cạnh đó, vẫn tồn tại nhiều hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng Internet như: Lập các Website giả mạo Website của các doanh nghiệp, tổ chức; Thỏa thuận mua bán hàng hóa qua mạng Internet nhưng không chuyển hàng hoặc chuyển hàng giả, hàng kém chất lượng…

(4) Tình hình kinh doanh và sử dụng tiền điện tử tại nước ta ngày càng bộc lộ nhiều sơ hở, thiếu sót nhưng chưa được quản lý chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng, dẫn đến tình trạng các đối tượng lợi dụng tiền điện tử để thực hiện hành vi phạm tội rửa tiền.

- Tình hình kinh doanh tiền điện tử (e-money) như Liberty Reserve; WMZ; Perfechmoney… và gần đây là Bitcoin vẫn diễn biến phức tạp khó lường; đặc biệt có một số doanh nghiệp, cửa hàng công khai thông báo sử dụng đồng Bitcoin giao dịch, xuất hiện một số cá nhân đầu tư dàn máy đào Bitcoin. Tại Việt Nam Bitcoin là không được phát hành bởi chính phủ hay một tổ chức tài chính mà được tạo ra và vận hành dựa trên hệ thống trên các máy tính kết nối mạng internet ngang hàng. Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đã có thông báo không chấp nhận tiền ảo Bitcoin là tiền tệ, phương thức thanh toán hợp pháp và đưa ra các cảnh báo rủi ro cho người sử dụng Bitcoin như Thái Lan, Nga, Pháp, Trung Quốc, Malaysia, Indinesia, Na uy… Do các giao dịch bằng tiền ảo Bitcoin có thể trở thành công cụ cho tội phạm như rửa tiền, buôn bán ma túy, trốn thuế, giao dịch, thanh toán tài sản phi pháp.

(5) Trong hoạt động thanh toán thẻ, thanh toán điện tử

- Tình trạng trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng để rút tiền, mua vé máy bay trực tuyến, thanh toán dịch vụ hoặc mua hàng hóa, gây thiệt cho chủ thẻ. Xuất hiện nhiều phương thức thủ đoạn mới trong việc trộm cắp thông tin thẻ tín dụng. Các đối tượng mạo danh tên các tổ chức quản lý thanh toán quốc tế uy tín là VISA, MASTER gửi thư đến khách hàng của các tổ chức này, thông báo việc cơ sở dữ liệu thẻ của khách hàng đang được nâng cấp và đề nghị khách hàng khai báo đầy đủ thông tin thẻ tín dụng của họ, sau đó chiếm đoạt các thông tin đó.

- Các đối tượng người nước ngoài (chủ yếu là công dân Trung Quốc, Đài Loan) tiếp tục nhập cảnh vào Việt Nam, sử dụng thiết bị chuyên dụng làm thẻ tín dụng giả, móc nối với các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (POS) thực hiện các giao dịch khống để rút tiền, chiếm hưởng trái phép hàng chục tỷ đồng.

- Tình trạng trộm cắp tiền thông qua các hoạt động mua bán hàng hóa trực tuyến và thanh toán qua dịch vụ Internet Banking đã ngày càng phổ biến. Hiện nay, chỉ cần số điện thoại và password sử dụng một lần là người dùng có thể mua hàng hóa và thanh toán trực tuyến. Lợi dụng kẽ hở này, các đối tượng chiếm đoạt sim điện thoại của khách hàng có sử dụng dịch vụ Internet Banking và thực hiện các giao dịch mua hàng hóa trực tuyến để chiếm đoạt.

2.2. Trong lĩnh vực viễn thông,nổi lên:

(1) Trộm cắp cước viễn thông quốc tế tiếp tục gây những thiệt hại lớn về kinh tế. Các đối tượng thường thiết lập hệ thống đường truyền viễn thông từ nước ngoài về Việt Nam, sau đó bán lưu lượng đường truyền cho các đối tượng ở nước ngoài, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các tập đoàn viễn thông trong nước.

(2) Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam (trong đó chủ yếu là các đối tượng người Đài Loan, Trung Quốc) thuê địa điểm và đường truyền Internet tốc độ cao, thiết lập và sử dụng hệ thống dịch vụ cuộc gọi thoại trên nền Internet (VOIP) để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

(3) Tình trạng phát tán thư rác, tin nhắn rác diễn ra ngày một tăng dưới nhiều hình thức khác nhau đã gây nhiều bức xúc cho người sử dụng thuê bao di động và hòm thư điện tử. Tin nhắn rác còn kèm theo mối nguy hại về virut mà người sử dụng không thể biết. Khi kích hoạt thư rác này, virut sẽ hoạt động và thu thập thông tin cá nhân bao gồm mật khẩu, thông tin tài khoản…

(4)Lừa đảo qua điện thoại bằng hình thức trúng thưởng, đề nghị người bị hại nộp tiền thuế, tiền phí… rồi chiếm đoạt. Hoặc tạo dựng việc người thân bị bắt cóc đòi tiền tống tiền… để chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

(5) Đánh bạc trực tuyến và cá độ bóng đá qua mạng Internettiếp tục diễn ra thường xuyên. Các đối tượng tại Việt Nam tiếp tục móc nối với các đối tượng cầm đầu các đường dây tổ chức đánh bạc, cá độ bóng đá trực tuyến tại nước ngoài cho các đối tượng trong và ngoài nước dưới nhiều hình thức;

(6) Hàng trăm trò chơi trực tuyến đang hoạt động trái phép, gây ra những tác động tiêu cực cho xã hội. Nhiều trò chơi có ảnh hưởng xấu làm người chơi mất kiềm chế, mất khả năng kiểm soát và nhận thức xã hội, đã gây ra nhiều vụ án nghiêm trọng.

3. Dự báo tình hình tội phạm hoạt động CNC trong những năm tới:

Trong những năm tới, tình hình tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động xuyên quốc gia ở nước ta sẽ còn diễn biến phức tạp. Các tổ chức tội phạm vẫn tiếp tục hoạt động với những vỏ bọc đa dạng, phương thức hoạt động và hành vi che giấu tội phạm tinh vi, xảo quyệt hơn, gây khó khăn cho công tác phát hiện và điều tra.

- Đặc biệt tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia sử dụng công nghệ cao tấn công, xâm nhập, trộm cắp, phá hoại dữ liệu, làm tê liệt hệ thống mạng Internet của các cơ quan, doanh nghiệp với mục đích kinh tế và phi kinh tế. Các hành vi vi phạm quy định về an ninh, an toàn hệ thống cơ sở dữ liệu của các ngân hàng, vi phạm quy định về bảo mật hệ thống để chiếm đoạt tiền của các ngân hàng. Sử dụng công nghệ cao trộm cắp tài sản, sử dụng trái phép, làm giả thẻ tín dụng để mua hàng từ nước ngoài rồi chuyển về Việt Nam.

- Hành vi lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử và thanh toán điện tử, nhắn tin lừa đảo, cá độ và đánh bạc qua mạng… sẽ có dấu hiệu gia tăng.

4. Một số vụ điển hình mà PC50 Hà Nội điều tra, khám phá

- Vụ án Công ty TNHH Công nghệ Việt Hồng, có hành vi giám sát trái phép điện thoại của người khác:

Phòng PC50 phát hiện công ty TNHH Công nghệ Việt Hồng (Công ty Việt Hồng) có trụ sở tại: Tầng 4, tòa nhà 110 Tô Vĩnh Diện, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội do ông Đặng Hồng Đăng làm Giám đốc đang giám sát trái phép điện thoại của nhiều cá nhân, có dấu hiệu vi phạm điều 226 BLHS. Ngày 24/4/2014, Giám đốc CATP Hà Nội ra quyết định xác lập Chuyên án bí số 773Pđể áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh, đã làm rõ: Công ty Việt Hồng cung cấp trái phép dịch vụ phần mềm giám sát điện thoại di động (tên gọi Ptracker) trên điện thoại có sử dụng hệ điều hành android. Phần mềm này có chức năng chạy ẩn, dữ liệu được bí mật lấy từ điện thoại bị giám sát trái phép như: Tự động xem tin nhắn, danh bạ, ghi âm cuộc thoại, ghi âm môi trường xung quanh, định vị vị trí điện thoại, quay phim, chụp ảnh, bật (tắt) 3G/GPRS máy điện thoại của người bị theo dõi. Phần mềm ptracker còn cho phép người sử dụng ra lệnh điều khiển từ xa điện thoại bị cài đặt trái phép phần mềm giám sát ptracker bằng tin nhắn tới điện thoại này. Toàn bộ dữ liệu theo dõi được chuyển về máy chủ của Công ty Việt Hồng và nhân viên kỹ thuật có toàn quyền sử dụng các dữ liệu này. Nghiêm trọng hơn ngay từ khi khách hàng dùng thử phần mềm Ptracker, điện thoại đã chính thức bị công ty Việt Hồng chiếm quyền điều khiển, toàn bộ dữ liệu bị đánh cắp và chuyển lên máy chủ dù khách hàng có đăng ký dùng dịch vụ hay không. Công ty Việt Hồng đã cài đặt trái phép phần mềm giám sát hơn 14.000 điện thoại trong đó có hàng nghìn tài khoản hiện tại vẫn đang hoạt động giám sát.

- Vụ án lừa đảo dưới hình thức tin nhắn trúng thưởng:

Qua công tác nắm tình hình, việc các thuê bao điện thoại di động bị lừa đảo dưới hình thức nhận được tin nhắn trúng thưởng. Ngày 12/02/2014, phòng PC50 phát hiện ông Nguyễn Đình Phúc (SN: 1956; Nơi ĐKNKTT: Đường Cao Lỗ, xóm Thượng, Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội) bị các đối tượng lừa đảo, chiếm đoạt mất 10.500.000 đồng.

Phòng PC50- CATP đã phối hợp với Phòng PA71- CATP và Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, tổ chức xác minh về ổ nhóm đối tượng: “Tự xưng là nhân viên tập đoàn viễn thông quân đội Viettel” gọi điện thoại cho khách hàng nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngày 26/02/2014, đã xác định ổ nhóm 04 đối tượng gồm: Trương Văn Chỉ, sinh: 1991;Nguyễn Tuấn Anh, sinh: 1991; Trần Xuân Hùng, sinh: 1994; Nguyễn Thị Xuân, sinh: 1957. Các đối tượng đêu không có nghề nghiệp, chưa có tiền án tiền sự và cùng ĐKNKTT tại: xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Đã xác định:

Vào khoảng 11 giờ 25 phút ngày 12/02/2014, Chỉ giả là nhân viên Viettel gọi điện cho ông Phúc thông báo: Nhân dịp 35 năm ngày thành lập công ty Viettel, số điện thoại của ông Phúc may mắn được trúng thưởng số tiền là 137.000.000 đồng (bao gồm 100.000.000 đồng tiền mặt và 37.000.000 đồng tương đương một chiếc xe máy) trong chương trình khuyến mãi cho thương binh. Chỉ yêu cầu ông Phúc cung cấp thông tin cá nhân để làm hồ sơ lĩnh thưởng và nộp 600.000 đồng thẻ cào điện thoại Viettel để lấy mã số nhận thưởng. Tin là thật, ông Phúc đồng ý vàmua 6 thẻ cào Viettel (mệnh giá 100.000 đồng) gửi cho Chỉ. Sau khi nhận được mã thẻ cào, Chỉ nói: “Sẽ có người của Sở giao thông gọi điện đến cho anh để làm thủ tục đăng ký xe”. Sau đó, Hùng gọi cho anh Phúc tự xưng là Hoàng Minh Thắng, mã số làm việc 368,là người của Sở giao thông vận tải, yêu cầu ông Phúc nộp 3.600.000 đồng thẻ cào điện thoại Viettel để làm thủ tục đăng ký giấy tờ cho xe máy trúng thưởng. Ông Phúc tiếp tục mua thẻ và chuyển cho Hùng. Sau khi nhận được mã thẻ, Hùng nói anh Phúc đợi để Hùng kiểm tra mã thẻ. Khoảng 10 phút sau, Hùng gọi cho ông Phúc nói đã thu đủ số tiền, thông báo sẽ có người của Công an kinh tế và Chi cục thuế gọi đến để thu tiền thuế của giải thưởng. Lúc này, Nguyễn Tuấn Anh sử dụng tiếp tục gọi điện cho anh Phúc tự xưng là Mai Quốc Trung, người bên Công an kinh tế và chi cục thuế, đề nghị anh Phúc nộp 6.300.000 đồng đóng thuế cho số phần thưởng anh được nhận. Ông Phúc đồng ý và tiếp tục mua thẻ cào điện thoại Viettel và gửi cho Tuấn Anh. Khi đã nhận đủ, các đối tượng tắt máy điện thoại, ngừng liên lạc với anh Phúc. Toàn bộ số mã thẻ cào trị giá 10.500.000 đồng (các đối tượng lừa được của ông Phúc) chúng bán lại cho Nguyễn Thị Xuân với giá 70% giá trị mệnh giá thẻ. Sau đó, Xuân chỉ trả các đối tượng 5.700.000 đồng (do có một số mã thẻ cào không sử dụng được). Các đối tượng chia nhau mỗi người 1.900.000 đồng. Xuân đã bán hết các thẻ, được hưởng lợi 2.400.000 đồng.

Phòng PC50- CATP đã phối hợp với Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel để rà soát các chi nhánh tại các tỉnh, thành phố trong cả nước để xác định các bị hại, mở rộng điều tra làm rõ các đối tượng khác có liên quan xử lý theo quy định của pháp luật.

- Vụ án đối tượng tổ chức sử dụng các ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động để chiếm đoạt tiền của người sử dụng:

Quá trình đấu tranh chuyên án xác định Công ty CP IMMC, địa chỉ: số 28, ngõ 139, đường Lê Thanh Nghị, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có website: mmoney.vn đăng tải các ứng dụng có chức năng tự động gửi tin nhắn đến các đầu số dịch vụ để trừ tiền của người sử dụng rồi chiếm đoạt số tiền này.

Ngày 30/5/2014, Phòng PC50 (Đội 3) đã xác minh 02 đối tượng: Nguyễn Tuấn Anh, sinh: 1985; Nghề nghiệp: Trưởng phòng kinh doanh Công ty CP IMMC; Đoàn Việt Dũng, sinh: 1986; Nghề nghiệp: Cộng tác viên kỹ thuật của Công ty CP IMMC.

Quá trình điều tra xác minh đã làm rõ hành vi của các đối tượng như sau:

Để chiếm đoạt được nhiều tiền của người sử dụng, tăng doanh thu cho Công ty IMMC, Tuấn Anh chỉ đạo Đoàn Việt Dũng lập trình và thiết kế website: mmoney.vn có các chế độ: Tắt/Bật Confirm (thông báo trước khi gửi tin nhắn); chế độ chọn số lượng tin nhắn gửi đi trong một lần truy cập ứng dụng, chế độ thay đổi các đầu số… để có thể trừ được nhiều tiền của người sử dụng và tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.

Các đầu số Công ty CP IMMC đã và đang sử dụng là: 8x77, 8977 (đầu số sub) của Công ty BlueSea; 8x71 của Công ty CP dịch vụ truyền thông thế hệ mới; 8x55 của Công ty CP đầu tư phát triển công nghệ và truyền thông NEO; 6x65, 8x88 của Trung tâm giá trị gia tăng VDC online; 6x86 của Công ty TNHH 1Pay.

Tiếp tục khai thác các tài liệu và dữ liệu máy chủ của website:mmoney.vn đã thu thập được, xác định có khoảng trên 700.000 thuê bao điện thoại bị mất tiền mà không biết khi sử dụng các ứng dụng của “Chợ nội dung số mmoney.vn” với số tiền khoảng trên 9.000.000.000 đ (Chín tỷ đồng), trong đó các nhà mạng viễn thông được 55%, các công ty đầu số được 45% và chuyển cho công ty CP IMMC 85% số tiền đã nhận được từ nhà mạng.

Hiện nay hệ thống “Chợ nội dung số mmoney.vn” có trên 2.000 thành viên tham gia. Các thành viên này chịu trách nhiệm phát tán các ứng dụng vi phạm và Công ty CP IMMC đã chuyển số tiền khoảng 2.873.704.090đ cho các thành viên trong hệ thống.

Hành vi của các đối tượng có dấu hiệu của tội phạm được quy định tại Điều 226b - Bộ luật Hình sự (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản).

- Vụ nhóm đối tượng quốc tịch Trung Quốc có hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Ngày 20/5/2014, đối tượng Gong Beiji (SN: 1958; Quốc tịch Trung Quốc; tạm trú tại: 17T9 đường Nguyễn Thị Thập, khu đô thị Trung hòa Nhân chính, Thanh Xuân, Hà Nội) liên hệ tìm đối tác người Việt Nam có đăng ký sử dụng máy chấp nhận thanh toán thẻ POS, nhằm thỏa thuận thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Quá trình xác minh xác định, Gong Beiji cùng đồng bọn mang theo các thiết bị số nhập cảnh vào Việt Nam móc nối với các Công ty có đăng ký máy chấp nhận thanh toán POS, sau đó sử dụng tài khoản thẻ tín dụng trộm cắp của người nước ngoài nạp thông tin vào thẻ trắng rồi thông qua máy chấp nhận thanh toán để tiến hành cà thẻ, thực hiện thanh toán khống. Sau khi cà thẻ thành công chuyển về tài khoản của các đối tượng người Việt Nam sẽ rút tiền và ăn chia. Các đối tượng Trung Quốc đã sử dụng máy tính kết nối mạng internet và các thiết bị kỹ thuật để làm thẻ tín dụng giả thực hiện giao dịch giả mạo, tổng số 54 giao dịch, với tổng số tiền là 3.305.946.603 đồng, tuy nhiên chỉ có 10 giao dịch thực hiện được thành công với số tiền: 19.890.329 đồng.

Sau khi không chiếm đoạt được số tiền lớn. Sau đó đến khoảng 21h30 ngày 08/7/2014, tại số 104 BT1C, P. Mễ Trì Thượng, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Phòng PC50- CATP đã cùng phối hợp với Cục A84, Cục C50, Cục A92- Bộ Công an bắt quả tang hai đối tượng Gong BeijiXie Rong (SN: 1981) có hành vi làm giả thẻ ngân hàng, truy cập bất hợp pháp vào các tài khoản cá nhân thông qua máy POS để chuyển 768.000.000đ vào tài khoản của công ty TNHH điện tử Huyndai Việt Nam. Thu giữ tang vật gồm: máy tính xách tay, các loại thẻ ngân hàng, thẻ nhớ, USB, thiết bị chyển tiền trên điện thoại di động…Tiến hành khám xét và bắt giữ nhóm đối tượng.

5. Những khó khăn vướng mắc và một số kinh nghiệm trong công tác điều tra, khám phá

- Qua thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao tồn tại những khó khăn, vướng mắc đó là:

+ Nhiều vụ án có sự tổ chức chặt chẽ giữa các đối tượng tội phạm là người nước ngoài với các đối tượng trong nước để thực hiện tội phạm. Các đối tượng này sử dụng mạng internet làm phương tiện phạm tội. Do đó hầu hết các tài liệu chứng cứ là các tệp tin lưu trữ trên máy tính, trên mạng. Khi bị phát hiện, tội phạm có thể xóa, sửa nhanh chóng để tiêu hủy nên rất khó thu thập chứng cứ.

+ Các đối tượng phạm tội thường sử dụng nick name, địa chỉ email để giao tiếp với nhau và với các bị hại nên rất khó xác định nhân thân địa chỉ thật của đối tượng hoặc bị hại, nhất là khi họ ở nước ngoài. Đối tượng phạm tội thường sử dụng thông tin giả nên việc truy tìm người thực hiện hành vi phạm tội là rất khó khăn. Ngoài ra việc chiếm đoạt tiền của nạn nhân thường thông qua nhiều tài khoản và đối tượng trung gian nên việc xác định trách nhiệm của các bên trung gian cũng rất khó khăn.

+ Quá trình điều tra thu thập chứng cứ của vụ án trên gặp nhiều khó khăn vì hầu hết chứng cứ chỉ được xác định trên cơ sở lời khai nhận của các đối tượng, các thông tin in từ mạng internet.

+ Nhiều trường hợp do hệ thống phần mềm không được bảo mật tốt, bị lộ mật khẩu, hệ thống không lưu trữ đầy đủ lịch sử truy cập dữ liệu, nên việc xác định người đăng nhập hệ thống là ai vào, thời gian nào, làm việc gì trên hệ thống… là rất khó khăn, dẫn đến không thể xử lý được đối tượng.

+ Chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật để xử lý một số hành vi tội phạm có sử dụng công nghệ cao như truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy qua mạng hoặc có văn bản hướng dẫn nhưng đã lạc hậu như hướng dẫn số đĩa để làm yếu tố định tội, định khung hình phạt truy tố đối với tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy.

Do đó chúng ta cần: Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý am hiểu, tinh thông nghiệp vụ để xử lý tốt các khâu của quy trình nghiệp vụ; Tăng cường công tác phối hợp với các ngân hàng, các đơn vị chức năng trực thuộc Công an TP Hà Nội, thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin tài liệu để chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý; Liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị phát hành, thanh toán thẻ và có sự hợp tác giữa các cơ quan hữu quan.

5. Những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo

- Cần đào tạo chuyên sâu theo các lĩnh vực để học viên ra trường có thể bắt nhịp nhanh với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao của các đơn vị địa phương. Phòng PC50 được thành lập với 5 đội: Đội Tham mưu; Đội Phòng, chống tội phạm mạng máy tính; Đội Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Đội Phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực thương mại điện tử và Đội phục hồi dữ liệu, chứng cứ điện tử tương đương với 05 phòng tương đương của cục C50. Do đó giáo viên phải có kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế để phục vụ cho quá trình đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực, bên cạnh việc đào tạo các kỹ năng nghiệp vụ chung, năm cuối hoặc kỳ cuối sẽ đào tạo theo các hướng chuyên sâu tương đương với các đội đặc thù của Cục C50, Phòng PC50.

- Tình trạng sinh viên của các trường trong Ngành CAND mới tốt nghiệp ra trường còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của đơn vị do: Kiến thức đào tạo trong trường chưa sát với thực tế; Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao ngày càng gia tăng và có thủ đoạn rất tinh vi, phức tạp; Thời gian thực tập, thực tế của sinh viên năm cuối tại đơn vị không dài nên không hiểu rõ được quá trình công tác của đơn vị; Do yêu cầu của công tác cán bộ theo định hướng tại CATP nên trong một số trường hợp chưa đúng với nhu cầu, nguyện vọng công tác của sinh viên mới ra trường, điều này ảnh hưởng đến tâm lý phấn đấu, cống hiến…

- Đơn vị luôn cử Cán bộ có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn giỏi và kỹ năng nghiệp vụ để giúp các sinh viên mới ra trường học tập và làm quen với công việc thực tế và nhanh đáp ứng được nhu cầu thực tế của đơn vị.

- Do cán bộ, chiến sĩ có trình độ về lĩnh vực chuyên môn thì nghiệp vụ Công an chưa cao. Và ngược lại, cán bộ có nghiệp vụ Công an sâu thì nghiệp vụ công nghệ còn hạn chế (hầu hết cán bộ, chiến sĩ của Phòng PC50 là tạm tuyển từ ngành ngoài, khả năng trinh sát và nghiệp vụ Công an chưa có). Vì vậy, trong thời gian tới, bên cạnh việc đào tạo các học viên mới đảm bảo cả nghiệp vụ Công an và nghiệp vụ kỹ thuật, đề nghị Học viện tăng cường tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Công an và lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật.

- Thường xuyên phối hợp giữa Khoa nghiệp vụ Cảnh sát PCTPSD công nghệ cao và Phòng PC50. Bên cạnh lý thuyết được học trong Học viện, cần tổ chức cho sinh viên của học viện thực tập tại Phòng P50 để hiểu rõ công tác trinh sát, đấu tranh với loại tội phạm công nghệ cao ngoài thực tế, cụ thể là trên địa bàn thành phố Hà Nội. Học viện cần cho giảng viên của Khoa nghiệp vụ CSPC tội phạm sử dụng công nghệ cao ra thực tế tại Cục C50, Phòng PC50 để có thể mang những kiến thức thực tế phục vụ cho công tác giảng dạy. Thời gian qua đã có 01 giảng viên ra thực tế tại Phòng PC50 con số này còn hạn chế, vì vậy, công tác tổ chức cho giảng viên ra thực tế tại Phòng PC50 cần tăng cường hơn trong thời gian tới.

-Tập trung đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ công nghệ thông tin cho cán bộ chiến sĩ tốt nghiệp Học viện Cảnh sát (chưa có trình độ về công nghệ thông tin) như: Đào tạo chuyên sâu về hệ thống an ninh, an toàn mạng, bảo mật; đào tạo về khai thác, sử dụng các thiết bị chuyên dụng để thu thập, phục hồi dữ liệu, chứng cứ điện tử....

- Xây dựng kế hoạch, chương trình tập huấn, đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ điều tra, đối với các loại tội phạm liên quan đến sử dụng công nghệ cao, các văn bản pháp luật, nghị định, thông tư liên quan đến công tác phòng chống tội phạm công nghệ cao cho cán bộ, chiến sỹ trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao (chưa qua đào tạo về nghiệp vụ điều tra).

- Tiếp tục phối hợp với Cục C50 đào tạo bổ sung thường xuyên các lớp tập huấn cho cán bộ chiến sĩ nắm vững về công tác nghiệp vụ cơ bản, cụ thể:

+ Tập huấn về công tác mở hồ sơ điều tra cơ bản các địa bàn, lĩnh vực liên quan đến công nghệ cao để thông qua đó nắm bắt được các quy luật của đối tượng vi phạm, kịp thời đưa đối tượng vào diện quản lý, có kế hoạch ngăn chặn tội phạm xảy ra.

+ Tập huấn về công tác mở hồ sơ sưu tra về đối tượng liên quan đến công nghệ cao để kịp thời nắm vững lai lịch, qua hệ, diễn biến hoạt động của đối tượng, từ đó nhằm chủ động, phát hiện, phòng ngừa ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động phạm tội.

 + Tập huấn về công tác mở hồ sơ hiềm nghi. Thông qua việc mở hồ sơ để đánh giá, xác định dấu hiệu nghi vấn của đối tượng. Từ đó xác minh làm rõ nguyên nhân, bản chất của các vấn đề nghi vấn. Khi đã xác định rõ nguyên nhân hay đối tượng có hoạt động phạm tội sẽ lập chuyên án đấu tranh triệt phá.

+ Tập huấn về công tác xây dựng mạng lưới bí mật để cán bộ chiến sĩ hiểu và nắm bắt được tình hình thông tin tội phạm liên quan đến công nghệ cao, nắm bắt các phương thức thủ đoạn mới, kịp thời đưa ra các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa đấu tranh có hiệu quả không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng. Chủ động phát hiện và thu thập các thông tin về các vụ việc và đối tượng liên quan đến tội phạm công nghệ cao.

Đại tá LÊ HỒNG SƠN - Trưởng phòng PC50, Công an Hà Nội

Thượng tá NGÔ MINH AN - Phó trưởng Phòng PC50, Công an Hà Nội

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học "Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo", Học viện CSND tháng 11/2014

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi