Thứ Năm, 23/11/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số vấn đề về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp

Nhưng trước tình hình đất nước mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ xã hội có nhiều thay đổi, ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng hơn, nhận thức pháp luật và sự hiểu biết pháp luật của các bộ phận dân cư, các tầng lớp trong xã hội cũng có sự thay đổi dẫn đến những thay đổi trong khiếu nại, tố cáo; Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiều quy định đến nay không còn phù hợp và trở nên lạc hậu, không điều chỉnh kịp thời các quan hệ ứng xử trong TTHS, hơn nữa quá trình thực hiện cho thấy các quy định của Bộ luật TTHS còn nhiều bất cập chưa cụ thể, mâu thuẫn với nhau hoặc không còn phù hợp với các văn bản pháp luật được ban hành sau đó, trong đó có cả những quy định về khiếu nại, tố cáo.
Hoạt động của hệ thống tư pháp tồn tại tất yếu đối với sự vận động và phát triển của Nhà nước và Pháp luật. Quá trình hoạt động của các cơ quan tư pháp sẽ thường xuyên và gắn liền với các khiếu nại của các chủ thể chịu tác động của các hoạt động đó. Do vậy việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại cũng cần có những quy định cụ thể đảm bảo cho hoạt động đúng đắn của cá nhân, cơ quan tiến hành các hoạt đông tư pháp. Bài viết dưới đây xin nêu một số vấn đề về “khiếu nại và giải quyết khiếu nại về tư pháp” để các đồng chí và các bạn tham khảo.
1. Khiếu nại
Theo Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) 2003, cơ quan, cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Giải quyết khiếu nại cho người dân. Ảnh minh họa

Theo quy định của TT02: “Người khiếu nại phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định và hành vi tố tụng mà mình khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại không đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp.”
Như chúng ta biết đối tượng của khiếu nại trong TTHS là các Quyết định tố tụng và hành vi tố tụng do vậy nó có phạm vi rất rộng và bao trùm tất cả hoạt động của tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cả người tham gia tố tụng như Giám định viên; Người phiên dịch;… khái niệm về “Người khiếu nại” trong TTHS cũng rất đa dạng. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng tác động đến quyền lợi và nghĩa vụ của rất nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức không chỉ những người tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người giám định; người phiên dịch, mà theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần II Thông tư 02 quy định: “Cơ quan nhận được đơn do đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc cơ quan báo chí chuyển đến, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết thì thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã chuyển đơn đến biết; nếu đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết thì gửi trả lại và thông báo bằng văn bản cho cơ quan hoặc cá nhân đã chuyển đơn biết”.
Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại trong TTHS cũng rất phong phú, luật không hạn chế loại hoạt động nào hay quyết định nào được hiếu nại. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ban hành rất nhiều các quyết định và thực hiện nhiều hành vi tố tụng theo quy định của pháp luật. Chỉ cần một sự thiếu thận trọng, chưa đảm bảo khách quan hoặc dễ dàng bỏ qua một quy định của Bộ luật TTHS trong khi làm nhiệm vụ thì đó có thể sẽ trở thành căn cứ phát sinh khiếu nại trong TTHS, ví dụ: Khi lấy lời khai người làm chứng, Điều tra viên chỉ nôn nóng vội vàng tìm ra chứng cứ để chứng minh tội phạm, mà quên giải thích cho họ quyền và nghĩa vụ của Người làm chứng quy định tại Điều 55 Bộ luật TTHS, thì nó có thể trở thành căn cứ để khiếu nại; khi xét xử vụ án hình sự, quá trình thẩm vấn chỉ tập trung vào chứng cứ buộc tội, bỏ qua chứng cứ gỡ tội loại trừ trách nhiệm của người bị kết án; chỉ xét hỏi những tình tiết tăng nặng mà không quan tâm đến việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ thì cũng sẽ là căn cứ để khiếu nại… Mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hình sự đều có thể xảy ra những sai sót và trở thành nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, có thể nêu một số hoạt động thường có khiếu nại như sau:
- Giai đoạn điều tra: 
+ Hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế để khởi tố điều tra; tiến hành việc điều tra không đúng thẩm quyền theo luật định; không tiến hành giám định trong trường hợp buộc phải trưng cầu giám định, giám định không chính xác; không giám định thiệt hại về tài sản trong các vụ án mà xác định thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc của tội danh.
+ Không đề nghị Đoàn luật sư chỉ định luật sư bào chữa cho các bị can vị thành niên hoặc thuộc trường hợp bắt buộc phải cử luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra, có hành vi cản trở gây khó khăn cho việc tham gia của luật sư trong giai đoạn điều tra.
+ Không cử người phiên dịch trong trường hợp cần phải có người phiên dịch, không tiến hành đối chất trong trường hợp lời khai của các bị can, bị cáo có mâu thuẫn.
+ Tiến hành hỏi cung vào ban đêm, có dấu hiệu thông cung, mớm cung, nhục hình trong quá trình điều tra.
+ Thu thập chứng cứ không đầy đủ bỏ sót hoặc bỏ lọt, thất lạc chứng cứ có ý nghĩa chứng minh bị can không phạm tội hoặc chứng cứ buộc tội bị can.
+ Tạm giam, tạm giữ bị can quá hạn luật định, không tống đạt cho bị can Bản kết luận điều tra, ý kiến khiếu nại của bị can ghi trong biên bản không được giải quyết, không tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền khiếu nại đối với hành vi của người tiến hành tố tụng.
- Giai đoạn truy tố:
+ Không kịp thời thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; không tiến hành phúc cung, tổ chức đối chất, thực nghiệm điều tra trong trường hợp cần thiết phải làm.
+ Trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần nhằm hợp thức hoá việc kéo dài thời gian tạm giam của bị can.
+ Ban hành các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án và bị can thiếu căn cứ pháp lý; không tống đạt Bản cáo trạng cho bị can và không tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền khiếu nại.
+ Không tạo điều kiện cho Luật sư tham gia tố tụng từ giai đoạn Quyết định truy tố, không cho Luật sư được phép nghiên cứu, sao chụp hồ sơ vụ án, gặp gỡ bị can trong trại tạm giam.
- Giai đoạn xét xử: 
+ Xác định không đúng thẩm quyền xét xử, vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; không tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác theo thời gian luật định; nội dung Quyết định đưa vụ án ra xét xử không ghi rõ họ, tên của những người tiến hành tố tụng; Quyết định đưa vụ án ra xét xử khi Viện Kiểm sát đã rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà.
+ Không triệu tập nhân chứng, người liên quan, những người tham gia tố tụng khác mặc dù đã được yêu cầu; xét xử không liên tục hoãn phiên toà xét xử không có lý do chính đáng.
+ Xét xử vắng mặt bị cáo, người bào chữa khi họ đã xuất trình những lý do xin hoãn phiên toà một cách chính đáng; xét xử bị cáo ngoài những hành vi và tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố.
+ Không phản ảnh đầy đủ kết quả thẩm vấn, kết quả tranh tụng trong biên bản phiên toà; hạn chế hoặc cản trở người bào chữa thực hiện quyền của họ tại phiên toà.
+ Bị cáo không được nói lời sau cùng; nghị án nhưng không biểu quyết từng vấn đề theo quy định; biên bản nghị án không có đầy đủ chữ ký, họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử.
+ Tiếp tục giam giữ bị cáo khi đã có quyết định trả tự do; không thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định; Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm trong khi có các dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

2. Tiếp nhận, xử lý và giải quyết khiếu nại
2.1. Tiếp nhận việc khiếu nại
Tại phần II mục 2 tiểu mục 2.1 TT 02 quy định “Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại theo quy định tại Điều 326 và Điều 327 Bộ luật TTHS cơ quan cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận khiếu nại, ghi chép đầy đủ nội dung khiếu nại vào sổ thụ lý và theo dõi khiếu nại. Trong trường hợp người khiếu nại có văn bản rút khiếu nại thì cơ quan cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra quyết định chấm dứt việc giải quyết khiếu nại”.
TT 02 đã có quy định về việc tiếp nhận khiếu nại trong hoạt động tư pháp. Tuy vậy việc tiếp nhận khiếu nại ở các cơ quan tư pháp còn thực hiện mỗi nơi một khác chưa thống nhất. Khó khăn cho việc theo dõi thống kê, một số địa phương việc theo dõi đơn khiếu nại liên quan đến hoạt động tư pháp còn giao cho Thanh tra hoặc Văn phòng theo dõi quản lý chung với các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo khác, sau đó chuyển trực tiếp đến người có thẩm quyền giải quyết, chưa xây dựng quy trình tiếp nhận đơn liên quan đế hoạt động tư pháp. Trong thực tế ngoài những vấn đề được quy định tại Thông tư 02 còn có những vấn đề chưa được quy định cụ thể như: Quy định việc xử lý những trường hợp người có đơn khiếu nại nhưng lại không phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp chịu tác động bởi các quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng (người thân thích của bị can bị cáo hoặc người tham gia tố tụng khác); trường hợp tiếp nhận đơn khiếu nại do người khiếu nại uỷ quyền cho Luật sư thực hiện quyền khiếu nại và tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại; việc tính thời hiệu khi nhận đơn khiếu nại nhất là khiếu nại đối với hành vi tố tụng; trường hợp xác định trở ngại khách quan để không tính vào thời hiệu khiếu nại.
2.2. Xử lý khiếu nại
Theo TT02 việc xử lý khiếu nại được quy định tại tiểu mục 1.3, mục 1, phần II  như sau:
“a. Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc đã có quyết định giải quyết cuối cùng, thì cơ quan nhận đơn không có trách nhiệm giải quyết, nhưng phải có văn bản chỉ dẫn, trả lời cho người khiếu nại. Việc chỉ dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần cho một việc khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại gửi kèm giấy tờ, tài liệu là bản gốc thì phải trả lại cho họ giấy tờ, tài liệu đó; nếu gửi trả lại qua bưu điện thì phải gửi bằng hình thức bảo đảm;
b. Đối với đơn khiếu nại có nhiều nội dung hoặc có nhiều người ký, thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải hướng dẫn cho người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại;
c. Đối với biên bản được lập theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật TTHS có ghi ý kiến khiếu nại thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền lập biên bản phải thông báo bằng văn bản gửi kèm bản sao đến cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết ;
d. Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền của cấp dưới nhưng quá thời hạn và chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cấp dưới giải quyết, đồng thời có biện pháp kiểm tra việc giải quyết;
đ. Đối với đơn hoặc biên bản có ghi ý kiến khiếu nại có đủ điều kiện, thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Việc thụ lý giải quyết phải được ghi chép đầy đủ nội dung vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết khiếu nại”.

Thông tư 02 đã quy định cụ thể việc xử lý khiếu nại, tuy nhiên vẫn còn vướng mắc như việc xử lý đơn khiếu nại có nhiều người ký ví dụ: Trường hợp nhiều người có quyền lợi và nghĩa vụ giống nhau và cùng chịu tác động bởi một quyết định tố tụng và họ cùng khiếu nại (như tập thể công nhân cùng một nhà máy, xã viên cùng một Hợp tác xã) nếu thực hiện theo quy định của TT02 để từng người riêng lẻ viết đơn thực hiện việc khiếu nại, thì việc giải quyết khiếu nại đối với từng trường hợp cụ thể có cùng một nội dung là không cần thiết và rất khó thực hiện. Như vậy có thể quy định cụ thể trong trường hợp này việc có nhiều người khiếu nại cùng một quyết định tố tụng về cùng một nội dung thì yêu cầu họ cử đại diện khiếu nại và tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại thì sẽ hợp lý hơn.
Thực tế việc xử lý khiếu nại đối với trường hợp biên bản được lập theo khoản 1 Điều 95 Bộ luật TTHS có ghi ý kiến khiếu nại cũng rất ít được thực hiện theo đúng quy định tại TT02 như các trường hợp Biên bản giao nhận Bản kết luận điều tra vụ án, biên bản giao nhận Bản cáo trạng, biên bản giao nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp bị can, bị cáo không đồng ý với các quyết định hoặc văn bản đó, ý kiến khiếu nại đã được ghi vào biên bản nhưng người có thẩm quyền lập biên bản không thông báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và như vậy khiếu nại không được giải quyết cho đến khi vụ án kết thúc.
Một số trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền và đủ điều kiện giải quyết nhưng đơn của người khiếu nại ghi nhiều nội dung trong đó có cả nội dung khiếu nại, đề nghị, phản ảnh khi tiếp nhận những đơn như vậy, người nhận đơn không hướng dẫn yêu cầu người khiếu nại tách phần nội dung khiếu nại để báo cáo người có thẩm quyền giải quyết theo đúng trình tự giải quyết khiếu nại, chính vì vậy mà nội dung khiếu nại cũng không được giải quyết theo quy định, và không vào sổ ghi chép, theo dõi khiếu nại.
Tuy đã có quy định nhưng một số trường hợp việc xử lý đơn vẫn gặp khó khăn như trường hợp cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đang xem xét giải quyết khiếu nại phát hiện thấy có vi phạm nghiêm trọng Bộ luật TTHS nhưng người khiếu nại lại có văn bản rút khiếu nại. Theo quy định tại tiểu mục 2.1 mục 2 phần II của TT02 thì “Trong trường hợp người khiếu nại có văn bản rút khiếu nại thì cơ quan cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định chấm dứt việc giải quyết khiếu nại.” hoặc khi Viện Kiểm sát cấp dưới đã có quyết định giải quyết khiếu nại, nhưng người khiếu nại không đồng ý, tiếp tục khiếu nại Cơ quan điều tra cấp trên sau khi xem xét thấy việc giải quyết của Viện Kiểm sát cấp dưới là sai, nhưng theo quy định của luật thì cơ quan điều tra cấp trên không được xem xét giải quyết tiếp.
2.3. Giải quyết khiếu nại
Đây là hoạt động chính của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đối với khiếu nại về tư pháp. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần II, TT02: “Việc giải quyết khiếu nại phải được thể hiện bằng quyết định và phải có hồ sơ.
Quyết định giải quyết khiếu nại phải ghi họ tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, nội dung khiếu nại, căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết khiếu nại, các biện pháp liên quan.

Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải có đơn khiếu nại và biên bản ghi ý kiến khiếu nại, văn bản giải trình của người bị khiếu nại, biên bản thẩm tra xác minh, kết luận, kết quả giám định, Quyết định giải quyết khiếu nại, các tài liệu khác có liên quan.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật.”

Vấn đề đặt ra là TT 02 quy định phải xác minh những vấn đề cần làm rõ, vậy trình tự và thủ tục xác minh như thế nào, theo quy định nào,  người có thẩm quyền có cần phải ra quyết định xác minh không, người xác minh có quyền hạn và nghĩa vụ gì để việc xác minh có hiệu quả. Theo quy định chung thì việc khiếu nại không làm ngừng việc thực hiện các hoạt động của người tiến hành tố tụng và việc thực hiện các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, tuy nhiên cơ quan tiến hành tố tụng có thể tạm dừng hoặc đình chỉ việc thực hiện quyết định của mình khi xem xét khiếu nại. Vậy thời hạn xác minh giải quyết khiếu nại có được tính vào thời hạn giải quyết vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật TTHS không?.
Trên thực tế việc giải quyết khiếu nại ở một số cơ quan tiến hành tố tụng chưa được tiến hành theo đúng quy định tại TT02, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mới chỉ dừng lại ở hình thức giải đáp những thắc mắc của người khiếu nại, bằng cách thông báo trực tiếp hoặc có nơi còn dùng công văn mang tính chất thông báo thay cho quyết định giải quyết khiếu nại. Có trường hợp giải quyết khiếu nại cơ quan có thẩm quyền chỉ ban hành một quyết định thay thế quyết định bị khiếu nại thì coi như việc khiếu nại đã được giải quyết, mà không cần ban hành quyết định giải quyết khiếu nại nữa, ví dụ: Trường hợp khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự sau khi xem xét người có thẩm quyền giải quyết thấy có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Như vậy quyết định không khởi tố vụ án hình sự là sai, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là chấm dứt khiếu nại, không cần ra quyết định giải quyết khiếu nại nữa.
Về thời hiệu khiếu nại Điều 328 Bộ luật TTHS quy định: “Thời hiệu khiếu nại là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người  khiếu nại cho rằng có vi phạm pháp luật. 
Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại”.

TT02 hướng dẫn cụ thể: “Trường hợp người khiếu nại gặp trở ngại khách quan như như ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc gặp những trở ngại khách quan khác ngoài ý muốn chủ quan của họ, làm cho họ không thể khiếu nại đúng thời hiệu, thì người khiếu nại phải có giấy tờ, tài liệu chứng minh hoặc văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền”.
Bộ luật TTHS quy định thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra , Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát là 7 ngày, và nếu không đồng ý kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền gửi đơn đến Viện Kiểm sát cùng cấp và thời hạn giải quyết của Viện Kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, khiếu nại lên Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp để giải quyết khiếu nại lần hai thời hạn là 15 ngày. Tuy nhiên Bộ luật TTHS và TT 02 chưa có quy định cụ thể về thời hiệu khiếu nại lần hai, thời gian là bao nhiêu ngày kể từ khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
2.4. Kết thúc giải quyết khiếu nại và hồ sơ giải quyết khiếu nại
Theo quy định của TT02 kết thúc việc giải quyết khiếu nại cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải ban hành quyết định giải quyết. Quyết định này phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan cá nhân có thẩm quyền giải quyết cuối cùng và Viện Kiểm sát cùng cấp.
Căn cứ kết quả giải quyết, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải áp dụng biện pháp hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục vi phạm pháp luật đối với quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý người có quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại nếu sai phạm của họ đến mức phải xử lý kỷ luật.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải có đơn khiếu nại hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại, văn bản giải trình của người bị khiếu nại, biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, quyết định giải quyết khiếu nại, các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật.
Bộ luật TTHS và TT 02 không có quy định kết thúc việc giải quyết khiếu nại thì quyết định và hồ sơ giải quyết khiếu nại có đưa vào hồ sơ giải quyết vụ án hình sự hay không. Trên thực tế việc đưa hồ sơ và quyết định giải quyết khiếu nại vào hồ sơ vụ án là cần thiết vì như vậy trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nghiên cứu hồ sơ thấy được những tình tiết xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án, đánh giá bản chất vụ án một cách khách quan, toàn diện và chính xác hơn. Điều này có ý nghĩa đối với việc bảo đảm quyền khiếu nại tiếp theo của người khiếu nại lên cấp trên và khi vụ án được đưa ra xét xử thì Toà án cũng biết là khiếu nại đã được xem xét và giải quyết ở giai đoạn tố tụng trước đó.
Thông tư 02 đã đóng góp vai trò quan trọng, tích cực đối với việc giải quyết khiếu nại về tư pháp. Tuy vậy trong quá trình thực hiện các quy định của thông tư vẫn còn những khó khăn, vướng mắc cần được bổ sung cho hoàn chỉnh. Để nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý và giải quyết khiếu nại trong thời gian tới chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
Một là: Nghiên cứu sửa đổi những quy định của Bộ luật TTHS, TT02 về khiếu nại trong hoạt động TTHS cho phù hợp với tình hình mới đáp ứng yêu cầu cho hoạt động của các Cơ quan Tư pháp và những người tham gia tố tụng. Xây dựng quy trình cụ thể cho việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại liên quan đến hoạt động tư pháp, xây dựng, ban hành hệ thống biểu mẫu phục vụ cho công tác tiếp nhận, xử lý và giải quyết khiếu nại tư pháp.
Hai là: Định kỳ 06 tháng hoặc 1 năm lãnh đạo liên ngành các cơ quan tư pháp cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực hiện TT02, qua đó kịp thời giải quyết những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện TT02 về khiếu nại và giải quyết khiếu nại tư pháp; tăng cường công tác trao đổi thông tin và phối hợp giải quyết của các cơ quan tư pháp theo tinh thần Quy định số 200/QĐPH/VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP về việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.
Ba là: Các cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương cần có bộ phận chuyên trách để tiếp nhận, xử lý và theo dõi quản lý việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp, coi đó là nhiệm vụ thường xuyên gắn liền với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ trình độ năng lực và hiểu biết pháp luật về khiếu nại, tố cáo thường xuyên làm công tác theo dõi, quản lý việc tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại và theo dõi quản lý công tác giải quyết khiếu nại tư pháp, mở lớp tập huấn chuyên sâu về TT02 và Quy định số 200/QĐPH/VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP về việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.
Bốn là: Lãnh đạo các cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương phải thực sự quan tâm đến công tác tiếp nhận, xử lý và giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp, thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm đối với việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết khiếu nại đảm bảo đúng quy định của pháp luật không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Chỉ đạo kiểm tra thường xuyên công tác này kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót, đề ra biện pháp khắc phục, phòng ngừa sai phạm.
Năm là: Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp luật, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ tiến hành các hoạt động tố tụng đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác hạn chế thấp nhất vụ, việc phát sinh khiếu nại. Bố trí đủ cán bộ, đảm bảo điều kiện cơ sở, vật chất cho cán bộ làm công tác tiếp nhận, xử lý và quản lý giải quyết khiếu nại. Có chế độ, chính sách cụ thể về khen thưởng, kỷ luật nâng cao ý thức trách nhiệm với công việc của đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp nhận, xử lý và quản lý giải quyết khiếu nại.
Nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý khiếu nại, tố cáo về tư pháp và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 09 CT/TW ngày 6/3/2002 của Ban bí thư, Thông báo 130-TB/TW ngày 10/1/2008 của Bộ Chính trị về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng đã có Quy định số 200/QĐPH/VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP về việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Các ngành tư pháp nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy chế phối hợp liên ngành để theo dõi, quản lý công tác giải quyết khiếu nại về tư pháp.
Thời gian tới liên ngành các cơ quan Tư pháp Trung ương sơ kết 5 năm thực hiện Thông tư 02/2005 TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP đánh giá ưu điểm, thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Thông tư từ đó sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn những bất cập vướng mắc trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về tư pháp giúp các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về tư pháp hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần bảo đảm và tăng cường pháp chế XHCN.

 

Thượng tá Đinh Văn Kha
Thanh tra viên chính - Phòng 2, Thanh tra Bộ Công an

(Trích Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Đào tạo, bồi dưỡng đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp của Điều tra viên theo tiến trình cải cách tư pháp”)

 


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi