Thứ Năm, 23/11/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn - Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn giai đoạn 2010 - 2020 đã góp phần nâng cao cơ sở vật chất, hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu trong trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong các làng nghề tại khu vực nông thôn. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đã và đang đặt ra những thác thức đối với công tác phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường (BVMT) nông thôn trong giai đoạn hiện nay.

 Với khoảng 80% diện tích toàn quốc, KVNT Việt Nam giữ vai trò là vành đai xanh, góp phần giữ cân bằng sinh thái giữa nông thôn và thành thị. Nông thôn là khu vực địa giới hành chính với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, được tổ chức theo đơn vị cơ sở là làng - xã và có vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm chính cho người dân, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp nông thôn giữ vị trí trọng tâm, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. KVNT chiếm khoảng 67% dân số toàn quốc với nguồn nhân lực, lao động quy mô lớn. Tính đến hết năm 2016, cả nước có 1864/5411 làng nghề truyền thống được công nhận. Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng không khí, nước, đất và 27% trong tình trạng ô nhiễm vừa. Đối với nước thải làng nghề, hàm lượng các chất ô nhiễm vượt hàng chục lần cho phép, tập trung chủ yếu tại các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ, làng nghề dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ, tái chế giấy, sơn mài…

Đánh giá về hoạt động của các làng nghề, có 72% làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu là quy mô hộ gia đình, mặt bằng sản xuất chật hẹp, xen kẽ với khu vực sinh hoạt, với các loại hình như: Tái chế (giấy, nhựa, chì, sắt thép...); sản xuất thực phẩm; thuộc da; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm... Các làng nghề sản xuất dựa trên kinh nghiệm, truyền thống với nguồn vốn, khoa học công nghệ hạn chế là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất. Điển hình như: Tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội; xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội; xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, Hà Nội; làng nghề tái chế Dương Ổ và làng Phúc Lâm tại xã Phong Khê, huyện Yên Phong, Bắc Ninh; nghề đúc đồng Đại Bái, huyện Gia Bình, Bắc Ninh; làng nghề tái chế chì tại xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm , Hưng Yên...

Đánh giá chất lượng môi trường KVNT cho thấy, môi trường không khí, nước KVNT chủ yếu bị ảnh hưởng bởi một số hoạt động làng nghề, điểm công nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, các cơ sở sản xuất, các trang trại chăn nuôi tập trung, khai thác khoáng sản ở các vùng lân cận, chôn lấp và đốt chất thải sinh hoạt… Ô nhiễm nguồn nước tại địa bàn nông thôn đang ở mức báo động, nguồn ô nhiễm xuất phát từ hoạt động làng nghề, trang trại chăn nuôi tập trung, nước thải từ các nhà máy xây gần vùng nguyên liệu (chế biến thủy sản, chế biến nông sản..) sinh hoạt của người dân nhưng không được xử lý. Sự suy giảm nhanh chóng của chất lượng môi trường KVNT đã tác động đến sức khỏe người dân, làm gia tăng tỉ lệ bệnh tật, suy giảm chất lượng cuộc sống, tác động trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Ô nhiễm môi trường các vùng nông thôn như hiện nay đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng đang sinh sống trong khu vực nông thôn, gây ra một số bệnh tật có tính chất di truyền, bệnh dịch lây lan nguy hiểm đến mạng sống con người như: Dịch sốt suốt huyết, dịch tả, tiêu chảy cấp...

Nhận thức rõ vấn đề ô nhiễm môi trường tại KVNT hiện nay đang ở mức độ rất nghiêm trọng, thực trạng môi trường KVNT đặt ra những nhiệm vụ cấp thiết cho các tổ chức, Bộ, ban, ngành, lực lượng chức năng có liên quan như: Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân các cấp quản lý, BVMT, trong đó, lực lượng Cảnh sát môi trường, Bộ Công an đóng vai trò chuyên trách, chủ công trong phòng, chống tội phạm và vi phạm hành chính về môi trường. Cụ thể, giai đoạn từ năm 2011 - 2016, Cảnh sát môi trường đã phát hiện 63.284 vụ vi phạm, với 66.100 đối tượng vi phạm; khởi tố và đề nghị khởi tố là 1.390 vụ, với 2.900 đối tượng, xử lý hành chính với 15.900 cá nhân, 11.320 tổ chức, xử phạt và truy thu phí môi trường là hơn 500 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, những năm qua, công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường KVNT vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Có thể thấy, thực trạng môi trường nông thôn thời gian qua xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản như sau:

Thứ nhất, do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh cùng sự gia tăng dân số đã gây áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn không qua xử lý. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải.

Thứ hai, các hoạt động sản xuất ở các vùng nông thôn chủ yếu mang tính tự phát, nhỏ lẻ, công nghiệp lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu còn thấp. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất; việc xả nước, rác thải, sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh; ý thức của người dân về việc tham gia công tác vệ sinh môi trường cộng đồng còn hạn chế. Việc xử lý các vi phạm về môi trường chưa được nghiêm minh; người dân sinh sống trong cùng khu vực dân cư biết những sai phạm nhưng ngại báo cơ quan chức năng để xử lý sự việc, do nể nang “tình làng, nghĩa xóm”, thân quen nên tránh né sợ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày.   

Thứ ba, do hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản khiến các thức ăn thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc, thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.

Thứ tư, nhận thức của người dân và cộng đồng đang sống và làm việc tại các KVNT về vấn đề môi trường còn chưa cao. Người dân nông thôn chưa có ý thức BVMT. Đặc biệt, trong hoạt động quản lý, BVMT còn nhiều bất cập, nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ BVMT chưa đầy đủ, chưa thấy rõ được nguy cơ ô nhiễm môi trường KVNT sẽ có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó có sức khỏe người dân.

Thứ năm, đội ngũ cán bộ quản lý môi trường thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ nghiệp vụ, cùng với đó, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có gần 30 - 35 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân so sánh với một số nước trong khối ASEAN là trên 70 người/1 triệu dân.

Thứ sáu, chính sách hỗ trợ cho các hoạt động quản lý chất thải nông thôn còn chưa thỏa đáng. Trong khi ở khu vực đô thị, các công ty dịch vụ môi trường đô thị là các doanh nghiệp công ích Nhà Nước, 80% kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà Nước, 20% do dân đóng góp, các tổ chức dịch vụ môi trường ở nông thôn kinh phí hoạt động chủ yếu từ nguồn thu phí dịch vụ môi trường do người dân đóng góp chỉ đủ để trả thù lao cho người thu gom rác với mức chỉ bằng 30 - 40% thu nhập của người thu gom rác ở đô thị. Điều này dẫn đến hạn chế trong việc  quản lý, thu gom rác thải.

Thứ bảy, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, lực lượng chuyên trách với các đơn vị địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng…

Trong thời gian tới, để tăng cường BVMT nông thôn hướng đến mục tiêu phát triển bền vững khu vực này, cần tập trung, nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau:

Một là, cần phải có các kế hoạch và biện pháp đánh giá toàn diện về thực trạng ô nhiễm môi trường tại các KVNT nước ta hiện nay. Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương khác nhau nên mức độ ô nhiễm môi trường khác nhau nên việc cần thiết hiện nay là phải lập được bản đồ về ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn, qua đó xác định các vùng ô nhiễm trọng tâm, trọng điểm để từng bước đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư. Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài. Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và dự án đó.

Hai là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề tại các khu vực nông thôn, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo. Đối với các khu công nghiệp đang đóng trên các địa bàn nông thôn hiện nay, cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải, tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lý nước thải, rác thải tại đó.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, trong đó cần chú trọng việc xây dựng các chế tài xử phạt phải mạnh, đủ sức răn đe các đối tượng vị phạm. Ban hành và thể chế hoá các luật có liên quan đến công tác BVMT tại các khu vực nông thôn, tiến tới xây dựng luật riêng về lĩnh vực này. Bên cạnh đó, xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo đúng tiêu chuẩn, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ hoạt động BVMT.

Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật BVMT, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và BVMT; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội. Đi đôi với công tác tuyên truyền, giáo dục cần tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề này trên các địa bàn nông thôn, như các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý và BVMT, các cơ sở y tế, các tổ chức đoàn thể có liên quan để đảm bảo cho công tác tuyên truyền, giáo dục và thực thi các biện pháp BVMT, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn có hiệu quả hơn

Năm là, Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng Cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động BVMT ./.

 Tài liệu tham khảo:

  1. Báo cáo tổng kết 10 năm của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường  từ 2011 – 2016, Hà Nội
  2.  Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2016 (Chuyên đề Môi trường nông thôn);
  3. http://www.baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong-va-phat-trien/201709/moi-truong-nong-thon-o-nhiem-nhieu-xu-ly-it-2845473/

Ninh Huy Cường - Học viên Cao học - T32

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi