Thứ Ba, 16/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số khó khăn, vướng mặc trong quá trình thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Những quy định của BLTTHS năm 2003 đã thể hiện sự kế thừa và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn nước ta trước đây, đồng thời thể chế hóa kịp thời chủ trương cải cách tư pháp đề ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”.Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành bộ luật còn nổi lên nhiều khó khăn, vướng mắc, trong đó, đáng chú ý nhất là ba loại vấn đề sau đây:

1. Những quy định về các nguyên tắc cơ bản

- Bộ luật còn thiếu một số nguyên tắc cơ bản hoặc một số nguyên tắc đã có nhưng chưa phản ảnh đầy đủ tư tưởng, định hướng về cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc miễn tố, nguyên tắc suy đoán tội phạm…

- Một số nguyên tắc trong bộ luật còn bất cập, chưa rõ ràng gây khó khăn cho việc áp dụng, như:

+ Nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” (Điều 4) chưa thể hiện đầy đủ việc tôn trọng và bảo vệ tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cơ quan, tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại; chưa quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra (Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm…) trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.

+ Nguyên tắc “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang” (Điều 6) là chưa phù hợp với trường hợp bắt truy nã.

+ Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9) chưa phản ảnh đầy đủ nội dung, yêu cầu của nguyên tắc “Suy đoán có tội” nên trong thực tiễn còn xảy ra tình trạng các cơ quan tư pháp đối xử với người bị bắt, bị can, bị cáo như người có tội, định kiến trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Nguyên tắc “Xác định sự thật vụ án” (Điều 10) quy định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm là chưa phù hợp; vì đó là trách nhiệm của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chứ không phải là trách nhiệm của Tòa án.

+ Nguyên tắc “Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án” (Điều 13) quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án là không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án, trong khi đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền khởi tố, điều tra thì lại chưa được quy định trong nguyên tắc này.

+ Nguyên tắc “Tòa án xét xử tập thể” (Điều 17) chưa phù hợp với việc tăng cường áp dụng thủ tục rút gọn, làm cho việc xử lý vụ án theo thủ tục này kéo dài.

+ Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án” (Điều 19) mới chỉ yêu cầu sự bình đẳng trước Tòa trong giai đoạn xét xử, điều đó là chưa phù hợp với yêu cầu tăng cường tranh tụng, bảo đảm sự bình đẳng trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

+ Nguyên tắc “Thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” (Điều 23) là trách nhiệm của Viện kiểm sát, nhưng chưa quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện chức năng này; không có nội dung “miễn tố” là chưa phù hợp với chính sách hình sự tiến bộ hiện nay.

+ Nguyên tắc “Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng” (Điều 32) chưa nêu rõ tính chất và nội dung cơ chế giám sát của nhân dân nên việc giám sát này còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp v.v…

2. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

BLTTHS hiện hành chưa phân định đầy đủ sự vận hành của các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự (buộc tội - bào chữa - xét xử) nên quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng có mặt chưa phù hợp.

- Đối với Cơ quan điều tra

+ Việc phân định thẩm quyền điều tra giữa các cấp Cơ quan điều tra trong cùng hệ thống chưa cụ thể, chặt chẽ, dấn đến Cơ quan điều tra Bộ Công an thụ lý điều tra số lượng lớn các vụ án hình sự. Thực tế này đã làm giảm vai trò của các cơ quan tố tụng Trung ương trong quản lý, chỉ đạo, điều hành, tổng kết thực tiễn và hướng dẫn các cơ quan tố tụng địa phương; mặt khác, tạo ra những xáo trộn không nhỏ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là với Viện kiểm sát, do số vụ ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm có số lượng lớn, gây khó khăn cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện việc ủy quyền.

+ Hầu hết Cơ quan điều tra ở nước ta được tổ chức trong bộ máy hành chính và phụ thuộc vào bộ máy hành chính. Thủ trưởng Cơ quan điều tra vừa là người tiến hành tố tụng, đồng thời vừa là người lãnh đạo bộ máy hành chính nên chưa có sự tách bạch rành mạch giữa quan hệ hành chính với tính chất là “quyền uy - phục tùng” với quan hệ tố tụng tư pháp có tính chất là “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

+ Không có cơ quan được giao trách nhiệm đầu mối quản lý toàn bộ tố giác, tin báo về tội phạm. Việc này chỉ giao cho Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là chưa phù hợp. Trên thực tế, một số lượng lớn tố giác, tin báo về tội phạm do lực lượng công an cấp cơ sở (xã, phường) tiếp nhận, xác minh ban đầu.

- Đối với cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

+ Hiện nay, trên nhiều lĩnh vực quản lý chuyên ngành có tính đặc thù như thuế vụ, quản lý thị trường, chứng khoán, kiểm ngư xảy ra nhiều hành vi vi phạm, tội phạm nhưng do các cơ quan này không được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, dẫn đến hạn chế tính kịp thời trong phát hiện, xử lý tội phạm ở các lĩnh vực này.

+ Thẩm quyền của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Hải quan, Kiểm lâm còn hẹp. Việc không quy định các cơ quan Kiểm lâm, Cảnh sát biển có quyền bắt khẩn cấp; Kiểm lâm và Hải quan không có quyền tạm giữ người đã gây khó khăn cho việc điều tra, ngăn chặn tội phạm…

+ Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Hải quan, Kiểm lâm…) không được quy định là cơ quan tiến hành tố tụng, người thực hiện hoạt động điều tra của cơ quan này không được quy định là người tiến hành tố tụng dẫn đến có sự nhận thức và thực hiện không thống nhất về giá trị tài liệu, chứng cứ do các cơ quan này thu thập…

- Đối với Viện kiểm sát

+ Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, nhưng BLTTHS hiện hành còn thiếu các quy định để Viện kiểm sát thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, dẫn đến Viện kiểm sát còn thụ động trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

+ Một số vấn đề cụ thể cần được xem xét như: Viện kiểm sát có trách nhiệm phê chuẩn quyết định khởi tố bị can nhưng lại chưa có quy định để Viện kiểm sát thực hiện tốt trách nhiệm này; thời gian xem xét phê chuẩn quá ngắn (3 ngày) nên trong nhiều trường hợp chỉ xem xét trên cơ sở tài liệu, báo cáo của Cơ quan điều tra. Quy định giới hạn Viện kiểm sát chỉ có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra (Điều 104); chỉ khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra mà phát hiện có người khác thực hiện hành vi phạm tội chưa được khởi tố (Điều 126) là không phù hợp với vai trò, trách nhiệm của cơ quan thực hiện quyền công tố. Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện chức năng công tố, quyết định việc khởi tố vụ án nhưng không có quyền xác minh, chỉ kiểm sát kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra đối với các tố giác, tin báo về tội phạm đã được tiếp nhận; chưa có quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 103).

+ Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình. Tuy nhiên, Bộ luật lại không quy định các biện pháp áp dụng trong trường hợp Cơ quan điều tra và Điều tra viên không thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát (Điều 114) nên thực tế nhiều yêu cầu của Viện kiểm sát không được thực hiện. Chưa có cơ chế ràng buộc trách nhiệm các đối tượng vi phạm phải thực hiện yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát; chưa phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn xét xử.

- Đối với Tòa án

Tòa án là cơ quan xét xử nhưng lại đang được pháp luật giao thực hiện một số thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử, ảnh hưởng đến yêu cầu bảo đảm sự khách quan trong tố tụng hình sự (ví dụ: thẩm quyền khởi tố vụ án). Mặc dù có quy định giới hạn xét xử để ràng buộc phạm vi xét xử của Tòa án; tuy nhiên, Bộ luật lại cho phép Tòa án được xét xử về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (Điều 196) là không phù hợp, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo.

- Việc phân định quyền hạn của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong các cơ quan tố tụng; quy định về thẩm quyền của những người trực tiếp tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) còn chưa rõ ràng, phù hợp

+ Quy định về phân công tiến hành tố tụng giữa Thủ trưởng với Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, giữa Viện trưởng với Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, giữa Chánh án và Phó Chánh án Tòa án (các Điều 34, 36 và 38) còn chưa cụ thể, rõ ràng. Trong mọi trường hợp, việc tiến hành tố tụng của cấp phó đều là thực hiện thay cấp trưởng, theo sự phân công của cấp trưởng. Việc cấp phó ký thay cấp trưởng đã dẫn đến vướng mắc khi cấp trưởng thay đổi, hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó gặp nhiều khó khăn, vì thực chất các quyết định đó do cấp phó ký thay chính là quyết định của cấp trưởng.

+ Các thẩm quyền tố tụng tập trung chủ yếu vào Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát. Điều tra viên, Kiểm sát viên là những người trực tiếp tiến hành hầu hết các hoạt động tố tụng nhưng quyền năng pháp lý thì rất hạn chế, hầu như chỉ có quyền báo cáo, đề xuất với lãnh đạo cùng với một vài quyền nhỏ như ký quyết định triệu tập bị can, triệu tập người làm chứng, người bị hại… đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến kéo dài thời hạn giải quyết vụ án, đồng thời chưa phát huy hết trách nhiệm của họ trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Chưa xác định được nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp Điều tra viên, Kiểm sát viên; giữa Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công thụ lý chính đối với vụ án với các Điều tra viên, Kiểm sát viên khác tham gia vào việc giải quyết vụ án. Một số biện pháp tố tụng đơn giản có thể giao cho Trợ lý Điều tra viên, Trợ lý Kiểm sát viên tiến hành nhưng do không quy định họ là những người tiến hành tố tụng nên văn bản tố tụng do những người này thực hiện không bảo đảm tính pháp lý.

3. Những quy định về xét xử nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch và tăng cường tranh tụng

Quy định của Bộ luật hiện hành về xét xử còn nổi lên một số bất cập như:

- Chỉ quy định Thẩm phán có quyền triệu tập người cần xét hỏi đến phiên tòa mà không quy định Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa có quyền đề nghị triệu tập người cần xét hỏi đến phiên tòa nên đã không bảo đảm sự tranh luận dân chủ trong phiên tòa (Điều 183).

- Khoản 1, Điều 187 quy định việc tham gia của bị cáo tại phiên tòa là bắt buộc vì sự vắng mặt của bị cáo vừa ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo, vừa có thể ảnh hưởng đến việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; song tại điểm c, khoản 2 của Điều này lại cho phép Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo khi xét thấy sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử dẫn đến tùy nghi trong áp dụng. Điều luật này cũng không quy định biện pháp giải quyết đối với trường hợp vụ án có nhiều bị cáo, trong đó có bị cáo không thể có mặt tại phiên tòa do bị bệnh hiểm nghèo, bị chết… dẫn đến việc tuyên án khó khăn.

- Bộ luật hiện hành chưa bắt buộc người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa (Điều 190) dẫn đến không ít phiên tòa vắng mặt người bào chữa, điều này ảnh hưởng đến việc đối đáp, tranh luận trong phiên tòa. Trong khi đó, đối với trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa, Bộ luật quy định nếu người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa nhưng không quy định rõ lý vắng mặt nên thực tiễn nhiều người bào chữa đã lợi dụng sơ hở này để cố tình vắng mặt, làm cho vụ án bị kéo dài.

- Chưa có biện pháp để người bị hại hoặc người đại diện cho người bị hại khi đã nhận lại tài sản hoặc đã được bồi thường đầy đủ phải có mặt tại phiên tòa (Điều 191); chưa có chế tài xử lý đối với giám định viên vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng (Điều 193) đã gây khó khăn cho quá trình xét xử.

- Thủ tục tố tụng tại phiên tòa chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu tranh tụng theo yêu cầu cải cách tư pháp: Điều 207 quy định trình tự xét hỏi “Thẩm phán hỏi trước, sau đó đến Kiểm sát viên” đã làm cho Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không chủ động tiến hành xét hỏi để bảo vệ cáo trạng; các quy định của Bộ luật về tranh luận giữa Kiểm sát viên với các bên trong phiên tòa còn hạn chế do số lượng Kiểm sát viên có mặt trong phiên tòa chỉ quy định tối đa hai người (Điều 189) là không tương xứng với số lượng lớn bị cáo, luật sư có mặt tại phiên tòa. Không quy định thời điểm người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội đối với các vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại trong thủ tục tranh luận (Điều 217).

- Theo quy định của Bộ luật thì trách nhiệm của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa rất nặng nề, vừa phải điều khiển phiên tòa, vừa xét hỏi chứng minh tội phạm, vừa xét tính đúng, sai của sự thật vụ án và áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, Điều 185 quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân là chưa phù hợp với thực tế vì trình độ chuyên môn, kinh nghiệm xét xử của Hội thẩm nhân dân còn hạn chế; trong khi đó, quy định biểu quyết theo đa số đã phát sinh nhiều bất cập trong thực tiễn, nhiều trường hợp bên Hội thẩm biểu quyết lấn át bên Thẩm phán chuyên nghiệp dẫn đến sai lầm trong việc ra phán quyết. Thủ tục nghị án theo quy định tại Điều 222 cũng chưa bao quát hết các tình huống xảy ra trong thực tiễn, như việc: những trường hợp khi nghị án không đạt được đa số theo luật định, do mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử có quan điểm riêng nhưng không có quan điểm nào chiếm đa số…

Do tính chất quan trọng của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đối với công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm, nên việc sửa đổi Bộ luật đã được Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII. Một số vấn đề vướng mắc cơ bản nhất trong các quy định của BLTTHS hiện hành nêu trên cần được cơ quan soạn thảo xem xét trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) cho phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và tiến trình hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

                                                           Phạm Thị Hoài Bắc

(Ban Nội chính Trung ương)

Nguồn: www.noichinh.vn




Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi