Thứ Ba, 23/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Công anTrung Quốc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Bộ trưởng Tô Lâm hội kiến với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Mạnh Kiến Trụ, Bộ trưởng Bộ Công an Bộ Công an Trung Quốc Quách Thanh Côn

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm do người Việt Nam và Trung Quốc thực hiện có nhiều diễn biến phức tạp, trong đó nổi lên chủ yếu là: Tội phạm mua bán người, tội phạm có sử dụng công nghệ cao và tội phạm buôn bán, vận chuyển ma túy tổng hợp có chiều hướng gia tăng. Xu hướng chung là các đối tượng phạm tội móc nối, liên kết với nhau hình thành các đường dây khép kín để mua bán, vận chuyên ma túy qua biên giới, nhiều đối tượng trang bị vũ khí nóng, hoạt động liều lĩnh, sẵn sáng chống trả lực lượng chức năng khi bị phát hiện, vây bắt. Cụ thể:

- Tội phạm mua bán người: Tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em tiếp tục diễn biến phức tạp, chúng thường đến vùng sâu, vùng xa, lợi dụng trình độ dân trí thấp, kinh tế khó khăn để lừa gạt phụ nữ dưới danh nghĩa giúp họ tìm việc, rủ rê đi buôn bán, du lịch, thăm thân qua biên giới, sau khi đưa nạn nhân đi một vài lần để tạo dựng lòng tin rồi bán cho các đối tượng bên Trung Quốc, một số đối tượng đã từng là nạn nhân, khi quay trở về Việt Nam dưới danh nghĩa thăm thân đã cấu kết với đối tượng trên địa bàn để lừa gạt và đưa các nạn nhân sang Trung Quốc.  Theo báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Hiệp định của Tổng cục Cảnh sát Việt Nam, giai đoạn 2011-2016 trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã phát hiện xảy ra 1.643 vụ (chiếm 70% tổng số vụ so với toàn quốc) với 2.440 đối tượng, lừa bán 3.246 nạn nhân, địa phương phát hiện xảy ra nhiều vụ việc là Lào Cai 492, Hà Giang 235 vụ, Lai Châu 178 vụ, Lạng Sơn 154 vụ.

 Các đối tượng phạm tội sử dụng nhiều thủ đoạn, tập trung vào tình trạng khó khăn về kinh tế, thất nghiệp, thiếu việc làm, trình độ học vấn thấp của người dân hoặc lợi dụng các trạng mạng xã hội, điện thoại di động để lừa bán các nạn nhân từ Việt Nam sang Trung Quốc, trong đó trên 85% nạn nhân là phụ nữ, trẻ em. Đặc biệt là các đối tượng là người Việt Nam cấu kết với đối tượng người Trung Quốc hình thành các đường dây mua bán người (phụ nữ, trẻ em) tập trung tại các tỉnh miền Tây Việt Nam, chủ yếu là bán sang Trung Quốc làm vợ bất hợp pháp

- Tội phạm ma túy: Các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy có sự tham gia của đối tượng cả hai nước. Theo đó, các đối tượng là người Việt Nam đang sinh sống tại Trung Quốc tìm cách vận chuyển ma túy “hai chiều” để thu lợi bất chính. Đáng chú ý, heroin được mua bán, vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam, rồi tiếp tục vận chuyển sang Trung Quốc; ngược lại, các loại ma túy tổng hợp và các loại tiền chất, thuốc tân dược gây nghiện được mua bán, vận chuyển từ Trung Quốc vào Việt Nam tiêu thụ. Ma túy được vận chuyển qua tuyến biên giới đường bộ, đường hàng không, đường biển giữa hai nước, trọng điểm là tuyến biên giới đường bộ thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng và Lào Cai. Loại ma túy chủ yếu là heroin được mua bán, vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam rồi tiếp tục vận chuyển sang Trung Quốc qua một số tuyến chính như sau: Tuyến Lạng Sơn - Trung Quốc chiếm Tuyến Quảng Ninh - Trung Quốc chiếm 25%; Tuyến Cao Bằng - Trung Quốc chiếm 15%; Các tuyến còn lại chiếm 5%

Phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ma túy ngày càng tinh vi, xảo quyệt, manh động, liều lĩnh. Các đối tượng cầm đầu đường dây trực tiếp qua Việt Nam hoặc Trung Quốc dùng điện thoại di động để điều hành đối tượng vận chuyển ma túy, đối tượng hoa tiêu dẫn đường không theo một tuyến đường nhất định mà liên tục thay đổi để tránh sự theo dõi, phát hiện của các lực lượng chức năng. Đối tượng vận chuyển thường là người lao động phổ thông, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, cư trú ở vùng giáp biên giới 2 nước, thông thạo đường mòn, đường tiểu ngạch để vận chuyển ma túy thuê cho chủ các đường dây ma túy là người Việt Nam hoặc Trung Quốc.

- Tội phạm sử dụng công nghệ cao: Tội phạm sử dụng Internet và mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; phát hiện một số đối tượng sử dụng mạng xã hội, Internet để phát tán hình ảnh, bài viết, phần mềm nhằm âm mưu chống phá về chính trị, kích động gây rối trật tự công cộng. Đặc biệt, hoạt động trộm cắp tiền từ thẻ tín dụng xuất hiện ngày càng nhiều. Các đối tượng trong nước câu kết với các đối tượng nước ngoài phân công nhau thực hiện từng công đoạn gây án như: Tấn công cơ sở dữ liệu; lấy cắp thông tin thẻ tín dụng; trao đổi, mua bán thông tin lấy cắp được để làm thẻ tín dụng giả hoặc sử dụng thông tin lấy được để rút tiền, mua hàng qua mạng… thành một đường dây khép kín để chiếm đoạt tài sản. Trong lĩnh vực thẻ ngân hàng, tình trạng đối tượng là người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam, làm giả thẻ và móc nối với một số cơ quan, tổ chức chấp nhận thanh toán thẻ (POS), tiến hành giao dịch khống để rút tiền mặt, hoặc mua hàng hóa tại các cửa hàng, siêu thị, gây thiệt hại hàng triệu đô-la Mỹ; nhiều đối tượng còn lắp đặt thiết bị tại các cây ATM hoặc máy POS để ăn cắp thông tin thẻ ngân hàng. Trong lĩnh vực viễn thông, nhiều đối tượng là người Trung Quốc vào Việt Nam lắp đặt thiết bị kỹ thuật, giả mạo cơ quan thực thi pháp luật của nước ngoài để lừa đảo, chiếm đoạt tiền của công dân Trung Quốc kinh doanh tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các đối tượng là người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam, lắp đặt thiết bị phát sóng không dây (wifi) xuyên biên giới tại các tỉnh biên giới của Việt Nam như: Quảng Ninh, Tây Ninh tạo thành hệ thống tổ chức đánh bạc qua mạng cho công dân Trung Quốc nhằm trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng Trung Quốc.

Hội nghị tổng kết cao điểm truy nã tội phạm giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc

Trước thực trạng trên, lực lượng chức năng của hai quốc gia đã có những chính sách phối hợp tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, quá trình phối hợp vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Cụ thể:

Một là, hai bên đã xây dựng được kênh liên lạc trực tiếp nhưng việc trao đổi thông tin còn chưa đầy đủ, do đó không chủ động trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhât là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Công tác phối hợp trao đổi thông tin mới chỉ được thực hiện khi có yêu cầu giải quyết vụ việc cụ thể của mỗi bên. Ngoài ra, vấn đề bất đồng ngôn ngữ cũng là nguyên nhân khiến việc tiếp xúc, trao đổi thông tin còn gặp nhiều khó khăn.

Hai là, việc hợp tác với nước ngoài thường bị kéo dài do thông tin về tội phạm muốn trao đổi với nước ngoài phải báo cáo qua nhiều nấc dẫn đến chậm, không còn tính chiến đấu. Một số hiệp định của Chính phủ về hợp tác đấu tranh chống tội phạm không được phổ biến rộng cho những người trực tiếp làm công tác thực tế nên hầu như không đi vào cuộc sống. Công tác phối hợp tổ chức hội đàm giữa Công an Việt Nam - Trung Quốc còn hạn chế, chỉ thực hiện ở một số tỉnh đối diện. Công an cấp tỉnh (các phòng nghiệp vụ) ít có điều kiện tổ chức hội đàm, trao đổi trực tiếp đã ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa và đấu tranh phòn, chống tội phạm có tổ chức giữa hai bên.

Ba là, việc trao trả một số nạn nhân mà phía Trung Quốc hỗ trợ giải cứu trong một số vụ việc chưa tuân thủ quy trình trao trả tiếp nhận, ảnh hưởng tới hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm. Trao trả người vượt biên trái phép, đối tượng phạm tội có nơi, có lúc chưa thống nhất về thời gian, cách thức địa điểm trao trả như hai bên đã thỏa thuận. Đồng thời, việc tiếp nhận thông tin yêu cầu phối hợp qua “đường dây nóng” được phía Trung Quốc triển khai có hiệu quả, tuy nhiên, trong một số vụ việc, Công hàm, Lệnh truy nã, Lệnh tạm giam được chuyển chậm, gây khó khăn cho hoạt động phối hợp xác minh, điều tra, truy bắt tội phạm.

Bốn là, trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm công nghệ cao, công tác phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin giữa các cơ quan phòng, chống tội phạm hai nước còn chậm, không đầy đủ trong khi tội phạm công nghệ cao diễn ra rất nhanh, các đối tượng sau khi rút tiền sẽ nhanh chóng tẩu thoát do đó kết quả đấu tranh với tội phạm này vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, việc thu thập, xác minh địa chỉ IP để xác định vị trí, địa điểm, đối tượng hoạt động gặp rất nhiều khó khăn và kéo dài.

Cuối cùng, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục, pháp luật; tuần tra, kiểm soát bảo vệ đường biên giới chưa được thường xuyên, trong bối cảnh tình hình bất ổn chính trị, kinh tế thế giới, khu vực tác động lên một số nhân dân biên giới bị bọn tội phạm dụ dỗ, lừa gạt, mua chuộc… tham gia hoạt động phạm tội.

Công an Việt Nam bàn giao đối tượng truy nã cho Công an Trung Quốc

Để góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, tác giả bài viết xin đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị sau:

Một là, tiếp tục triển khai có hiệu quả kế hoạch thực hiện các Hiệp định, Thỏa thuận về hợp tác trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa Chính phủ, Bộ Công an Việt Nam và Chính phủ, Bộ Công an Trung Quốc đã ký kết, như: Tăng cường trao đổi đoàn; hợp tác phòng, chống hoạt động xuất nhập cảnh trái phép; phối hợp triển khai công tác bảo vệ an ninh nội địa; phòng, chống chủ nghĩa khủng bố; phòng, chống tội phạm mua bán người; hợp tác cấm hoạt động đánh bạc và phòng, chống  tội phạm liên quan đến vũ khí; hợp tác phòng, chống tội phạm ma túy; hợp tác phòng, chống tội phạm về kinh tế;

Hai là, thiết lập và duy trì “đường dây nóng” làm cơ sở trao đổi thông tin giữa các đơn vị chức năng của hai Bộ

Thiết lập và duy trì “đường dây nóng” hoặc kênh thông tin trao đổi (sĩ quan liên lạc) giữa các đơn vị chức năng của hai Bộ trong từng lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo đảm thống nhất các biện pháp phối hợp thông tin được trao đổi nhanh chóng, thuận tiện. Hoàn thiện cơ chế trao đổi thông tin thông qua các hình thức: Đường dây nóng, văn phòng sĩ quan liên lạc về phòng, chống tội phạm mua bán người tại khu vực biên giới, đại diện Bộ Công an đặt tại nước sở tại, cơ chế 3 cấp của Bộ đội biên phòng để trao đổi thông tin… Duy trì cơ chế giao ban định kỳ và đột xuất, trao đổi đoàn các cấp nhằm kịp thời thông báo về về tình hình hoạt động tội phạm mua bán người, các vụ án nghiêm trọng, tăng cường phối hợp tổ chức đấu tranh với các vụ án cụ thể; phối hợp điều tra các đường dây, băng nhóm tội phạm; tổ chức truy bắt, trao trả và giải cứu nạn nhân.

Ba là, tổ chức phối hợp triển khai kế hoạch hành động chung

Hai bên cần tiếp tục xác định hợp tác phòng chống tội phạm có tổ chức giữa Bộ Công an hai nước là một nội dung quan trọng trong tổng thể quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác dựa trên nội dung các thỏa thuận đã thống nhất, đặc biệt là Biên bản Hội nghị hợp tác phòng, chống tội phạm lần thứ tư trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi, góp phần phát triển bền vững, ổn định quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc.

Tiếp tục tăng cường trao đổi đoàn các cấp từ Trung ương đến địa phương để trao đổi thông tin, kinh nghiệm, ký kết các thỏa thuận hợp tác mà hai bên cùng quan tâm, tạo tiền đề hỗ trợ giúp đỡ phối hợp nâng cao hiệu quả công tác, bảo vệ vững chắc an ninh của mỗi nước. Tổ chức có hiệu quả các cuộc gặp gỡ song phương luân phiên hằng năm giữa các đơn vị; Cảnh sát hình sự, phòng, chống tội phạm ma túy, bảo vệ an ninh nội địa, xuất nhập cảnh, chống tội phạm tiền giả, phòng, chống tội phạm buôn bán người, quản lý hành chính.

Đẩy mạnh các cơ chế, hình thức trao đổi hợp tác giữa hai Bên, chú trọng trao đổi đoàn, làm việc giữa công an các đơn vị, địa phương nhất là các địa phương biên giới và giữa các địa phương trọn điểm đã được xác định trong Biên bản Hội nghị. Tiếp tục phát huy vai trò điều phối quan hệ hợp tác, trao đổi thông tin của Cơ quan Đại diện hai Bộ trong Đại sứ quán mỗi nước.

Tổ chức triển khai kế hoạch hành động chung thực hiện các cao điểm tuyên truyền, tấn công, trấn áp tội phạm trên tuyến biên giới hai nước thành hoạt động thường niên; chủ động phối hợp tuyên truyền, phát động nhân dân khu vực biên giới tích cực tham gia phát hiện, tố giác tội phạm; tăng cường lực lượng và phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý an ninh, trật tự khu vực biên giới, nhất là những khu vực biên giới trọng điểm, các đường mòn thuận tiện cho việc đi lại của tội phạm; nghiên cứu, trao đổi để sớm thống nhất quy định mới đơn giản hóa “các thủ tục qua lại biên giới” khi có yêu cầu phối hợp điều tra, truy bắt. dẫn độ tội phạm lẩn trốn hoặc có lệnh truy nã, giải cứu nạn nhân... Đề xuất cấp có thẩm quyền thúc đẩy việc ký kết Hiệp định dẫn độ giữa hai nước và cơ chế hợp tác giữa các đơn vị nghiệp vụ về đấu tranh phòng, chống tội phạm tiền giả.

Tăng cường giáo dục công dân ở khu vực biên giới thông qua các cuộc phát động phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc để nhân dân nhận thức rõ và thực hiện tốt các quy định về xuất nhập cảnh, tổ chức nắm và quản lý số công dân ta xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê. Tiếp tục xác minh, tiếp nhận công dân Việt Nam xuất cảnh trái phép không được Trung Quốc cho cư trú theo thỏa thuận hợp tác phòng, chống xuất nhập cảnh trái phép mà Bộ Công an hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã ký kết.

Bốn là, tăng cường công tác giáo dục - đào tạo, bao gồm:

- Tăng cường nâng cao năng lực của đội ngũ làm công tác hợp tác về đấu tranh phòng chống tội phạm

Để có thể thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, chúng ta cần có các cơ quan, đội ngũ cán bộ tinh thông về nghiệp vụ, giỏi về pháp luật quốc tế, ngoại ngữ và tin học. Mục tiêu này đặt ra thách thức lớn cho ngành Công an trong việc tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

Cần gắn nâng cao năng lực ngoại ngữ, công nghệ thông tin với đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, pháp luật quốc gia, quốc tế cũng như những thông lệ quốc tế. Các trường đào tạo của ngành cần phát triển mô hình đào tạo cán bộ, chiến sĩ CAND dưới hình thức liên kết với nước ngoài tổ chức tại Việt Nam hoặc chuyển tiếp thực tập đào tạo tại nước ngoài ở trình độ cao. Ngoài ra, cần nghiên cứu bổ sung, sửa đổi, nâng cao chất lượng từng bước nhằm hoàn chỉnh các giáo trình, giáo án phù hợp với sự thay đổi của tình hình phát triển kinh tế đất nước, bổ sung kiến thức nền nói chung cũng như giảng dậy về tình hình, xu thế phát triển của tội phạm trên thế giới. Việc cập nhật kiến thức và đào tạo bổ sung, nâng cao cho đội ngũ cán bộ cũng cần phải đặc biệt quan tâm để góp phần xây dựng mặt bằng chung về năng lực cán bộ thi hành pháp luật so với khu vực và thế giới.

- Tăng cường hợp tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ và hỗ trợ tài chính, phương tiện kỹ thuật trong các lĩnh vực phòng, chống tội phạm, kỹ thuật hình sự

Cần tổ chức các lực lượng chuyên trách chống tội phạm theo cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, ban ngành từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm chủ động phòng ngừa, phát hiện điều tra và xử lý tội phạm triệt để. Tiếp tục mở rộng quy mô và chất lượng đào tạo cán bộ thi hành pháp luật theo hướng chú trọng vấn đề đào tạo, huấn luyện kiến thức, các kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm nói riêng theo chức năng của mỗi ngành. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách có kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ, am hiểu pháp luật quốc tế, ngoại ngữ, tin học và kinh nghiệm, đồng thời đầu tư về kinh phí, trang thiết bị, phương nghiệp vụ phục vụ hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm đáp ứng kịp thời yêu cầu hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm của mỗi lực lượng chức năng từ Trung ương đến địa phương.

Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, huấn luyện võ thuật, nhất là tập huấn, đào tạo cán bộ chuyên trách về phòng, chống tội phạm tiền giả và phương tiện kỹ thuật để phục vụ công tác phát hiện, đấu tranh với loại tội phạm này.

Tăng cường trang bị kinh phí, phương tiện, kỹ thuật nghiệp vụ cho lực lượng điều tra, đảm bảo đáp ứng kịp thời đòi hỏi của tình hình thực tiễn vì đây là các nhóm tội phạm nguy hiểm, rất manh động.

Đấu tranh chống tội phạm có tổ chức, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đòi hỏi phải có lực lượng có tính chuyên môn cao, những cán bộ giỏi về nghiệp vụ, hiểu biết sâu cả về luật pháp của Việt Nam và quốc tế, có trình độ ngoại ngữ và giàu kinh nghiệm hợp tác quốc tế đấu tranh chống tội phạm, tâm huyết và nghiêm túc trong công việc. Vì vậy, cần nghiên cứu thành lập lực lượng chuyên trách chống tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia với quy mô tổ chức đủ mạnh cả về lượng và chất ở Bộ Công an và công an các tỉnh, các thành phố trọng điểm. Lực lượng này, bên cạnh trình độ nghiệp vụ và luật pháp tinh thông, cần được trang bị những phương tiện nghiệp vụ hiện đại, được huấn luyện kỹ năng sử dụng có hiệu quả các phương tiện này.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công an (2006), 60 năm lực lượng Cảnh sát nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

2. Bộ Công an (2015), Kỷ yếu: Phòng chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa và Hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

3. Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015.

Nguyễn Thị Bích Lan - Khoa Ngoại Ngữ, T32

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi