Thứ Bảy, 18/8/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Đổi mới chế định chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Nhận thức được vị trí đặc biệt quan trọng của chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đều dành một chương riêng quy định những vấn đề chung nhất về chứng cứ và đặt ra các yêu cầu cho các chủ thể tố tụng và những người khác có liên quan phải tuân thủ khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình trong từng giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, quá trình thực thi những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về chứng cứ và chứng minh đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc nhất định, làm ảnh hưởng đến yêu cầu giải quyết vụ án, nhất là chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới.

Nhằm tháo gỡ những bất cập trong pháp luật hiện hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có những đổi mới quan trọng trong vấn đề chứng cứ và chứng minh.

Thứ nhất, thay đổi khái niệm chứng cứ: Khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Quy định này vô hình chung đã tạo thế “độc quyền” trong việc thu thập chứng cứ - chỉ giao cho cơ quan tiến hành tố tụng (gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án). Các chủ thể tố tụng khác không có quyền thu thập chứng cứ, mà chỉ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án. Điều này đã dẫn đến sự “độc quyền” của các cơ quan tiến hành tố tụng liên quan đến việc có chấp nhận hay không chấp nhận những tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án do các chủ thể khác cung cấp. Hệ quả của quy định này là làm cho việc giải quyết vụ án có thể dẫn đến không khách quan, phiến diện, một chiều.

Khắc phục hạn chế này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng quyền thu thập chứng cứ qua khái niệm về chứng cứ được quy định tại Điều 88: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Theo đó thẩm quyền thu thập chứng cứ không chỉ là các cơ quan tiến hành tố tụng mà mở rộng phạm vi ra các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng: “Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sang tỏ vụ án” (khoản 1 Điều 88).

Bên cạnh đó, bổ sung người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ; những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ (khoản 2 và khoản 3 Điều 88). Như vậy, việc thu thập chứng cứ được bảo đảm tính công bằng của các chủ thể tố tụng cùng tham gia, giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ.

Thứ hai, bổ sung và quy định cụ thể trách nhiệm, trình tự, thủ tục các cơ quan tố tụng tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do những người tham gia tố tụng cung cấp (khoản 4 và khoản 5 Điều 88). Theo đó, khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 88 cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Với quy định mới này sẽ tránh việc làm mất, làm hỏng, làm thất lạc những chứng cứ, đồ vật, tài liệu mà các chủ thể này cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Thứ ba, bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ gồm: Dữ liệu điện tử; kết quả định giá tài sản; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác (khoản 1 Điều 87). Theo đó, dữ liệu điện tử được hiểu là “ ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử” (Khoản 1 Điều 99); kết luận định giá tài sản được hiểu là “văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu” (khoản 1 Điều 101); kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác “do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án” (khoản 1 Điều 103). Việc bổ sung thêm những nguồn chứng cứ mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế hiện nay phải có các nguồn chứng cứ này; đặc biệt là trước yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao…

Thứ tư, bổ sung nguyên tắc loại trừ chứng cứ “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án” (khoản 2 Điều 87). Quy định như vậy vừa rõ ràng, đầy đủ, vừa khắc phục những biểu hiện tùy tiện, tránh được những trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể đưa cả những tài liệu không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định làm chứng cứ của vụ án như các tài liệu thu thập được bằng các biện pháp trinh sát, bí mật… Qua đó cũng tránh các hoạt động vi phạm quyền con người, quyền công dân có thể xảy ra trong quá trình chứng minh về vụ án.

Thứ năm, bổ sung đầy đủ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. Đối với bất kỳ vụ án hình sự nào, vấn đề đầu tiên đặt ra cho các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định được những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự để từ đó có hướng thu thập chứng cứ. Nếu như trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự liên quan đến hành vi phạm tội, chủ thể của tội phạm thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng hơn trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo đó, bổ sung trách nhiệm phải chứng minh: Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (khoản 5 và khoản 6 Điều 85). Điều này đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan tố tụng phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, tránh tâm lý chủ quan, một chiều trong quá trình chứng minh về vụ án.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 với những sửa đổi, bổ sung nêu trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về chứng cứ và chứng minh, thể hiện tính ưu việt, công bằng, công khai, dân chủ hơn trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh hiệu quả hơn với tội phạm trong thời kỳ đẩy mạnh ứng dựng khoa học - công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay./.

Lương Hải Yến - NCS Khóa 18 - T32

Nguyễn Thế Viễn - Cao học 24 - T32

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi