Thứ Bảy, 18/8/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát trật tự với Cảnh sát cơ động trong công tác bảo đảm trật tự công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội

Mặt khác, tình hình thế giới và trong khu vực còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, khó lường, khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, mặt trái của cơ chế thị trường và những bất cấp trong thực hiện chính sách kinh tế, xã hội tạo nên nhiều nhân tố phức tạp mới, công tác giải phóng mặt bằng, triển khai thực hiện các dự án tiếp tục gặp khó khăn; tình hình hoạt động của các đối tượng cơ hội chính trị vẫn tiếp tục hoạt động; tình hình tụ tập đông người khiếu kiện nhất là khu vực giáo sứ Thái Hà, Phùng Khoang, Mỹ Đức,... gây nhiều dư luận trong nhân dân.

Sau khi mở rộng địa giới hành chính (năm 2008), Thành phố Hà nội  hiện nay có diện tích tự nhiên trên 3.344 km2, gồm 12 quận, 01 thị xã, 17 huyện, 174 phường, 401 xã, 22 thị trấn với  1.702.552 hộ, 6.913.161 nhân khẩu. Trên địa bàn Hà Nội có nhiều nơi đang trong quá trình đô thị hoá nhanh như: khu vực Quận Hà Đông, Quận Bắc Từ Liêm, huyện Đông Anh... có nhiều dự án xây dựng các khu chung cư, nhà cao tầng, quy hoạch mở đường và những công trình phúc lợi xã hội đã và đang được triển khai thực hiện.

Trong những năm qua, tình hình TTCC trên địa bàn thành phố Hà Nội có nhiều diễn biến phức tạp, tốc độ đô thị hóa phát triển, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, lượng phương tiện gia tăng nhanh; ý thức chấp hành pháp luật và các quy định về TTCC của một bộ phận không nhỏ người tham gia giao thông còn hạn chế...

Theo thống kê của CATP Hà Nội cho thấy, Trong thời gian từ năm 2013 đến tháng 6/2017, lực lượng CSCĐ đã phối hợp với CSTT bắt giữ và xử lý 10.932 vụ PPHS,  xử lý hành chính 953.424 trường hợp vi phạm quy định về TTCC trên địa bàn thành phố Hà Nội, với các vi phạm chủ yếu như: Lấn chiếm lòng, lề đường, bán hàng rong, dừng đỗ phương tiện sai quy định, hoạt động quá giờ quy định, uống rượu bia say gây rối TTCC, đổ rác thải không đúng nơi quy định...

Với sự nỗ lực cố gắng của các lực lượng nghiệp vụ, nhất là lực lượng CSTT và lực lượng CSCĐ Công an thành phố Hà Nội, tình hình TTCC trên địa bàn thành phố đã được duy trì bảo đảm ổn định; vi phạm TTCC được hạn chế, không để xảy ra tình trạng rối loạn TTCC. Vì vậy, có thể khẳng định rằng công tác của lực lượng CSCĐ, lực lượng CSTT cũng như mối quan hệ giữa hai lực lượng trong công tác bảo đảm TTCC đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, trên một số phương diện cụ thể như:

- Hoàn thành tốt công tác tham mưu với các cơ quan chức năng và Ban Giám đốc Công an TP.Hà Nội, từng bước ban hành các văn bản tạo cơ sở pháp lý cho các lực lượng trong quan hệ phối hợp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về TTCC.

- Thực hiện quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát trật tự với Cảnh sát cơ động bảo đảm hợp lý, phát huy tối đa sức mạnh của cán bộ, chiến sĩ và các trang thiết bị kỹ thuật trong bảo đảm trật tự công cộng.

- Công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm trật tự công cộng và các hành vi phạm pháp hình sự có hiệu quả, đúng quy định của Pháp luật.

Bên cạnh những ưu điểm đạt được, từ thực tiễn quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSTT với CSCĐ cũng đã bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của mối quan hệ này trong công tác bảo đảm TTCC đó là:

Công tác phối hợp trong tổ chức, tuyên truyền và vận động quần chúng tham gia bảo đảm TTCC chưa được thực hiện một cách triệt để, mà chủ yếu do lược lượng CSTT tiến hành. Trong một số trường hợp, khi phát hiện và xử lý các vi phạm hành chính còn máy móc, phiền hà gây bức xúc trong quần chúng nhân dân khiến cho việc ủng hộ, giúp đỡ từ quần chúng nhân dân chưa cao. Thực tế cho thấy, số lượng các vụ VPPL và PPHS do lực lượng CSCĐ và CSTT ngăn chặn và xử lý qua thông tin từ người dân còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là do lực lượng tuần tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn và xử lý. Chính vì vậy, quá trình tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát còn gặp nhiều khó khăn, nhiều hành vi VPPL chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.

Quá trình phối hợp chưa phát huy được hết tính tích cực của các CBCS tham gia phối hợp tuần tra, kiểm soát. Trong một số trường hợp, quan hệ phối hợp còn mang nặng tính hình thức, chưa đi sâu vào nội dung công việc.

Trong quan hệ phối hợp, các lực lượng chức năng chưa khai thác và sử dụng hiệu quả vai trò của từng lực lượng, phát huy năng lực CBCS trong việc thực hiện các nội dung, yêu cầu của mối quan hệ phối hợp.

Công tác triển khai các biện pháp nghiệp vụ để tiến hành phát hiện, xử lý các hành vi VPPL chưa thực sự hiệu quả, hoạt động tuần tra, kiểm soát nhiều khi được triển khai chậm chạp, rườm rà;

Đôi khi tiến hành công tác tuần tra, kiểm soát, một số tổ tuần tra còn chưa thực hiện tốt các quy định trong quy trình tuần tra, kiểm soát. Không ít cán bộ, chiến sĩ chưa thận trọng, thiếu cảnh giác trong công tác, chủ yếu tập trung vào phát hiện và xử phạt các vi phạm hành chính về TTCC, chưa tiến hành kiểm soát kỹ người và phương tiện dẫn đến không phát hiện được các dấu hiệu PPHS của đối tượng. 

Trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác của các lực lượng còn thiếu, nhất là các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật của lực lượng CSTT.

Qua nghiên cứu cho thấy nguyên nhân của những vấn đề nêu trên tập trung ở một số nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, nhận thức về tầm quan trọng của của quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSCĐ và CSTT trong bảo đảm TTCC trong một bộ phận nhỏ cán bộ, chiến sĩ của cả hai lực lượng còn hạn chế, chủ yếu chỉ quan tâm đến công tác và những hoạt động chuyên môn của lực lượng mình, nhất là trong quan hệ phối hợp tuần tra, kiểm soát. Theo quy định của pháp luật, cụ thể là Thông tư số 65/2012/TT-BCA và Thông tư số 65/2012/TT-BCA thì lực lượng Cảnh sát trật tự có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát nhằm bảo đảm TTCC; trong Quyết định số 910/2006/QĐ-BCA(C11) ngày 02/08/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy trình tuần tra, kiểm soát bảo đảm ANTT của lực lượng Cảnh sát cơ động thì lực lượng CSCĐ cũng có chức năng, nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Do đó, các lực lượng này thường có tâm lý muốn hoạt động độc lập, không muốn phụ thuộc vào lực lượng khác.

Thứ hai, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức mối quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng của lãnh đạo các cấp chưa thường xuyên đáp ứng được yêu cầu quan hệ phối hợp của hai lực lượng. Mặc dù, đã có sự chỉ đạo của Giám đốc Công an thành phố và một số trường hợp hai bên đã thỏa thuận xây dựng kế hoạch phối hợp giữa hai lực lượng trong bảo đảm TTCC, trong đó xác định rõ trách nhiệm của từng lực lượng trong quan hệ phối hợp. Song, trên thực tế đi vào thực hiện các nội dung yêu cầu cụ thể của mối quan hệ phối hợp thường phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo chỉ đạo cụ thể và có sự kiểm tra đôn đốc thường xuyên của lãnh đạo trực tiếp đối với từng lực lượng, nhưng vấn đề trên thực hiện chưa nghiêm túc.

Thứ ba, do biên chế của từng lực lượng còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ lý luận, nghiệp vụ, dẫn đến số lượng cán bộ, chiến sĩ tăng cường cho quan hệ phối hợp trong hoạt động tuần tra, kiểm soát bị hạn chế. Trong khi địa bàn tiến hành bảo đảm TTCC và phòng ngừa các hành vi VPPL rộng (12 quận, 17 huyện và 01 thị xã). Do đó, trong quá trình phối hợp tuần tra, kiểm soát chỉ có thể tập trung vào một tuyến, một địa bàn cụ thể, đồng thời, số lượng tổ tuần tra, kiểm soát trong 1 ca không đủ để bảo đảm khép kín địa bàn hoặc để phối hợp với nhau khi xử lý các tình huống phát sinh nếu có. Bên cạnh biên chế của từng lực lượng còn thiếu thì trình độ cán bộ, chiến sĩ cũng là một vấn đề cần quan tâm.

Thứ tư, mặc dù kế hoạch phối hợp lực lượng CSTT và lực lượng CSCĐ trong tuần tra, kiểm soát bảo đảm TTCC đã được xây dựng trên cơ sở điều tra cơ bản, nắm tình hình địa bàn. Tuy nhiên, trong kế hoạch này chủ yếu xác định các tuyến, địa bàn trọng điểm để tổ chức phối hợp tuần tra, kiểm soát, tổ chức lực lượng phối hợp, thời gian tiến hành... chưa có những quy định cụ thể về đội hình tuần tra, kiểm soát, nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ, chiến sĩ khi tuần tra, kiểm soát. Nhất là đối với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động, kế hoạch phối hợp chỉ quy định là phối hợp và hỗ trợ lực lượng Cảnh sát trật tự, việc phối hợp và hỗ trợ như thế nào thì không quy định rõ ràng, dẫn đến hiện trường ỷ lại và “việc ai, người ấy làm”.

Thứ năm, trang bị công cụ, phương tiện, thiết bị phục vụ công tác bảo đảm TTCC của các lực lượng còn hạn chế, nhất là đối với các trang bị phương tiện của lực lượng CSTT. Một số phương tiện, công cụ đã được tăng cường, đổi mới, mang lại hiệu quả rõ rệt như xe môtô, lựu đạn cay, áo giáp, gậy điện, ... Song các phương tiện, thiết bị này vẫn trong tình trạng chưa đầy đủ, không đồng bộ, đặc biệt là chưa có hệ thống thông tin liên lạc hoàn chỉnh (cả vô tuyến và hữu tuyến). Phương tiện môtô phân khối lớn phục vụ tuần tra, kiểm soát lưu động còn hết sức hạn chế. Cơ chế cấp phát kinh phí, xăng dầu phục vụ tuần tra, kiểm soát còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho CBCS làm nhiệm vụ. Các thiết bị an toàn dành cho lực lượng tuần tra, kiểm soát, công cụ phương tiện hỗ trợ còn thiếu và rất lạc hậu không đủ để đáp ứng yêu cầu cưỡng chế, trấn áp đối với các hành vi vi phạm và bảo đảm an toàn cho CBCS làm nhiệm vụ, chưa tạo nên sức mạnh và sự uy nghiêm của lực lượng Cảnh sát tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm TTCC nên đã xảy ra tình trạng một số người vi phạm cố tình chống đối gây thương vong cho lực lượng làm nhiệm vụ.

Mặt khác, do ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao, chưa thực sự nhiệt tình ủng hộ, tin tưởng vào hoạt động của các lực lượng khi tiến hành thực thi nhiệm vụ. Một bộ phận quần chúng nhân dân có thái độ bao che cho hành vi vi phạm TTCC của người vi phạm, thậm chí trong nhiều trường hợp, người vi phạm và người dân còn có thái độ chống đối, thách thức và không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng chức năng.

Như vậy, có thể thấy rằng, những nguyên nhân trên đã làm giảm hiệu quả của quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSTT với CSCĐ trong bảo đảm TTCC trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua. Vì vậy để nâng cao hiệu quan hệ phối hợp này trong thời gian tới, các cấp ủy đảng, chính quyền thành phố Hà Nội nói chung và Công an thành phố Hà Nội nói riêng cần tập trung nghiên cứu, chỉ đạo đề ra các giải pháp và thực hiện đồng bộ nhằm loại trừ các nguyên nhân, điều kiện trên, đồng thời phát huy tối đa những mặt ưu điểm tích cực để nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp trong bảo đảm TTCC.

Để nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát trật tự với Cảnh sát cơ động trong bảo đảm trật tự công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả xin đưa ra một số giải pháp như sau:

Một là, nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, đề xuất xây dựng và thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa Cảnh sát cơ động với Cảnh sát trật tự trong bảo đảm trật tự công cộng

- Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng chuyên trách cần xây dựng và ban hành các văn bản qui định về mối quan hệ phối hợp này, trong đó chỉ rõ:

- Nội dung công tác tham mưu, đề xuất với Công an Thành phố, Công an các quận, huyện, thị xã cần phải được chuẩn bị trước, được đưa ra bàn bạc, thống nhất trong tổ chức. Trường hợp nội dung tham mưu xuất phát từ ý kiến cá nhân phải được phát triển, lựa chọn, sàng lọc và hoàn chỉnh trước khi được đưa ra làm nội dung tham mưu, đề xuất tránh trường hợp đề xuất bừa và ẩu không xem xét, tính toán kỹ lưỡng gây tác hại xấu.

- Nội dung tham mưu, đề xuất xây dựng phương án, kế hoạch triển khai thực hiện mối quan hệ phối hợp cần dựa trên sơ sở khoa học và thực tiễn, được các cấp lãnh đạo đồng tình ủng hộ. Đồng thời, phải có sự quyết tâm, thống nhất giữa các lực lượng, chủ thể cùng tham gia, thực hiện triệt để các nội dung trong phương án, kế hoạch tham mưu, đề xuất đã đưa ra. Công tác tham mưu, đề xuất cần có tính khả thi cao, phù hợp với tình hình thực tế địa bàn. Nhiều phương án, kế hoạch tham mưu, đề xuất trong thực hiện mối quan hệ phối hợp này nhưng quá trình triển khai thực hiện hiệu quả thấp, khó khăn trong khi thực hiện, chính vì vậy đôi khi công tác phối hợp còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao gây tâm lý chán nản, thiếu quyết tâm của CBCS dẫn tới chồng chéo chức năng, nhiệm vụ hoặc bỏ trống địa bàn,...

Về hình thức tham mưu: Công tác tham mưu cần phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời giúp đảm bảo công tác lãnh đạo chỉ huy trong quá trình thực hiện quan hệ phối hợp đạt hiệu quả cao nhất, do vậy hình thức tham mưu phải đa dạng, linh hoạt, nhạy bén trong từng trường hợp, với một số hình thức cụ thể:

Hai là, phối hợp trong xử lý trao đổi thông tin, giải quyết tình huống đột xuất gây ảnh hưởng trật tự công cộng

Hoạt động trao đổi thông tin

Trong mối quan hệ phối hợp của CSTT với CSCĐ, cơ chế xử lý, trao đổi thông tin về công tác bảo đảm TTCC cần được thực hiện như sau:

Bước 1: Nội dung thông tin đưa ra trao đổi giữa các lực lượng

Bước 2: Tổ chức tiếp nhận thông tin

Bước 3: Kiểm tra, xác minh, sàng lọc thông tin

Bước 4: Xử lý, sử dụng thông tin

Xử lý tình huống, sự việc xảy ra liên quan đến TTCC

Bước 1: Tiếp nhận tin báo

Bước 2: Xác minh tình huống, sự việc xảy ra

Bước 3: Báo cáo lãnh đạo, chỉ huy

Bước 4: Tổ chức phối hợp lực lượng

Bước 5: Giải quyết sự việc, tình huống xảy ra

Ba là, phối hợp trong tuyên truyền, vận động quần chúng chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về trật tự công cộng như: Kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, từng bước đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nâng cao ý thức chấp hành trật tự công cộng;  kết hợp chặt chẽ giữa công tác xử lý vi phạm hành chính về TTCC với hoạt động tuyên truyền, giáo dục vận động quần chúng chấp hành nghiêm các quy định về TTCC, tham gia đấu tranh với các hành vi vi phạm

Bốn là,  phối hợp trong tuần tra, kiểm soát phát hiện, xử lý các vi phạm trật tự công cộng và các hành vi vi phạm pháp luật khác

Thông tư số 29/2008/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của CSTT. Do đó, mỗi lực lượng tham gia vào tổ tuần tra, kiểm soát đều có hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát khác nhau, dẫn đến việc lúng túng khi phối hợp tuần tra, kiểm soát. Do đó, trong kế hoạch phối hợp tuần tra, kiểm soát cần chỉ rõ những nội dung như sau:

+ Những cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSTT với lực lượng CSCĐ trong tuần tra, kiểm soát bảo đảm TTCC;

+ Quy định rõ các trường hợp tiến hành phối hợp, trình tự thủ tục, các nội dung, hình thức phối hợp lực lượng CSTT và lực lượng CSCĐ trong tuần tra, kiểm soát bảo đảm TTCC.

+ Quy định rõ vai trò, trách nhiệm của của các cơ quan trong bộ máy hành chính, quản lý ở Công an các cấp đối với quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSTT với lực lượng CSCĐ trong tuần tra, kiểm soát bảo đảm TTCC. Cụ thể là vai trò của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Công an các cấp, lãnh đạo, chỉ huy hai lực lượng, thẩm quyền và nghĩa vụ trong quan hệ phân công, phối hợp trong công tác tuần tra, kiểm soát; trong huy động các lực lượng, các phương tiện phối hợp hỗ trợ công tác tuần tra, kiểm soát giải quyết các vấn đề phức tạp về TTCC, TTATXH…

+ Quy định rõ về phương thức, đội hình tuần tra, kiểm soát; xác định rõ quyền hạn, phân công rõ trách nhiệm của từng lực lượng và trình tự, thủ tục tiến hành từng phần việc trong quan hệ phối hợp; thẩm quyền, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ từng lực lượng khi phối hợp tiến hành công tác tuần tra, kiểm soát hoặc giải quyết các vấn đề phức tạp; thống nhất về lực lượng, phương tiện và phương pháp chiến thuật sử dụng trong từng tình huống cụ thể.

+ Quy định về hình thức khen thưởng, động viên đối với các cơ quan, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như hình thức, biện pháp xử lý đối với các cơ quan, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ khi được phân công; chế độ, chính sách đối với các CBCS tham gia phối hợp.

Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ và trang bị, bổ sung các loại vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ cho các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự công cộng. Từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ Cảnh sát cơ động và Cảnh sát trật tự bảo đảm yêu cầu thực tế. Chọn lọc cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát trật tự và Cảnh sát cơ động có trình động, năng lực phù hợp. Trang bị, bổ sung các loại vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ hiện đại cho các lực lượng trong phối hợp bảo đảm trật tự công cộng.

Trong xu thế phát triển khoa học kỹ thuật, sụ bùng nổ của cách mạng công nghệ 4.0, việc trang bị đầy đủ các loại vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ và các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an nói chung và công tác bảo đảm TTCC nói riêng là yêu cầu rất quan trọng. Trong Đề án công tác Công an bảo đảm ANTT phục vụ hội nhập kinh tế của Bộ Công an đã nêu. Nâng cao tiềm lực và sức chiến đấu của CAND bảo đảm đáp ứng được yêu cầu bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH trong thời kỳ hội nhập. Trên cơ sở thực trạng trang bị vũ khí, phương tiện công cụ hỗ trợ cho các lực lượng CSCĐ, CSTT và trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hoạt động tuần tra, kiểm soát cho thấy: các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho công tác bảo đảm TTCC của lực lượng CSTT, CSCĐ chủ yếu là các loại vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ được sản xuất từ thế kỷ XX, số lượng hạn chế, hiệu quả sử dụng chưa cao. Do đó, trong thời gian tới, để đáp ứng được yêu cầu bảo đảm TTCC, cần phải trang bị đầy đủ các loại vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ hiện đại cho các lực lượng trong quá trình làm nhiệm vụ, thực hiện phối hợp bảo đảm TTCC.

Bên cạnh chế độ trang bị mới, lực lượng CSTT và lực lượng CSCĐ cần thường xuyên rà soát, kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu quả sử dụng các loại vũ khí như: Súng AK, K54, K59... các loại công cụ hỗ trợ như bình xịt hơi cay, bộ đàm, khóa số 8, đèn pin, dùi cui... các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ này đã được trang bị từ lâu, lại không được thường xuyên sử dụng, điều kiện bảo quản không tốt nên nhiều loại đã xuống cấp, hỏng hóc, thậm chí không sử dụng được.

Việc trang cấp các trang thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ trợ cho từng lực lượng là cần thiết, xong cần có quy định rõ ràng về cơ chế, quy trình sử dụng các loại vũ khí, phương tiện đặc chủng, công cụ hỗ trợ này tránh hỏng hóc, thất thoát. Điều này sẽ bảo đảm cho các tổ công tác phối hợp tuần tra, kiểm soát có đầy đủ các phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ phục vụ có hiệu cho hoạt động bảo đảm TTCC. Quá trình phối kết hợp, kế hoạch phối hợp tuần tra, kiểm soát cần quy định rõ phạm vi trách nhiệm và số lượng, chủng loại phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ được sử dụng của từng lực lượng./.

Dương Danh Tiến - Ch24 - T32

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi