Thứ Ba, 21/11/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Thực trạng tai nạn giao thông và phương hướng, nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong giai đoạn hiện nay

I. Thực trạng tai nạn giao thông

Trong những năm qua, cùng với sự vào cuộc quyết liệt của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền, Mt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã có nhiều chủ trương, kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện nhiều giải pháp đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và đã đạt được những kết quả tích cực. Tình hình trật tự, an toàn giao thông có những chuyển biến, tai nạn giao thông đã được kiềm chế, giảm liên tiếp về số vụ, số người chết và số người bị thương. Cụ thể, so với năm 2007, năm 2010 giảm 791 vụ (giảm 5,4%), giảm 1.744 người chết (giảm 13,2%), giảm 407 người bị thương (giảm 6%). Và đặc biệt trong năm 2012, 2013 là 2 năm liên tiếp số người chết đã giảm xuống dưới 10 nghìn người. Cụ thểtai nạn giao thông năm 2012 toàn quốc xảy ra 36.409 vụ, làm chết 9.849 người, bị thương 38.064 người. So sánh với cùng kỳ năm 2011, giảm 7.490 vụ (giảm 17,06%), giảm 1.647 người chết (giảm 14,33%), giảm 9.527 người bị thương (giảm 20,02%). Tai nạn giao thông năm 2013(từ ngày 16/12/2012 đến 15/12/2013)xảy ra 29.385 vụ, làm chết 9.369 người, bị thương 29.500 người. So với cùng kỳ năm 2012 giảm 1.610 vụ (giảm 5.19%), giảm 55 người chết (giảm 0,58%), giảm 3.045 người bị thương (giảm 9,36%).

Trong 9 tháng đầu năm 2014, cả nước xảy ra 18.697 vụ, làm chết 6.758 người, làm bị thương 17.835 người. So với cùng kỳ năm 2013 giảm 3.164 vụ (giảm14,47%), giảm 282 người chết (giảm 4,01%), giảm 3.945 người bị thương (giảm 18,11%).

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, tình hình vi phạm trật tự, an toàn giao thông vẫn diễn ra phức tạp, tai nạn giao thông vẫn ở mức cao và nghiêm trọng, nhất là số người chết, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đường bộ vẫn đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và hình ảnh của đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Đặc biệt, trong thời gian qua đã xảy ra liên tiếp các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến xe khách giường nằm gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Điển hình là vụ tai nạn xe khách giường nằm xảy ra trên Quốc lộ 4D tại tỉnh Lào Cai ngày 01/9 vừa qua đã cướp đi sinh mạng của 12 người và làm bị thương 41 người. 

Những tồn tại trên là do công tác quản lý Nhà nước trong chỉ đạo và điều hành thực hiện các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông chưa thường xuyên, liên tục và mạnh mẽ. Cụ thể là: năng lực, chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về kinh doanh vận tải, quản lý kỹ thuật phương tiện, bảo vệ kết cấu hạ tầng cũng như công tác thanh tra, tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế, mới chỉ tập trung tại một số địa bàn, một số nhóm đối tượng, trên các tuyến trọng điểm, trong thời gian cao điểm, chưa bảo đảm thường xuyên, liên tục trên địa bàn; công tác quản lý về hoạt động vận tải, đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe, đăng kiểm phương tiện vẫn còn một số hạn chế; tình trạng phương tiện chở quá tải trọng vẫn xảy ra, hiện tượng tiêu cực trong thực thi công vụ vẫn còn, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thực thi nhiệm vụ thanh tra, tuần tra, kiểm soát còn có biểu hiện né tránh, thiếu trách nhiệm, tiêu cực, làm trái quy định. Nguyên nhân chính không thể không kể đến đó là ý thức tự giác chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông của một bộ phận người tham gia giao thông còn nhiều hạn chế. Các hành vi vi phạm: đi không đúng phần đường, làn đường; điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ quá tốc độ cho phép; lái xe ôtô sử dụng rượu, bia; người điều khiển xe môtô, xe gắn máy có nồng độ cồn vượt quá quy định; người tham gia giao thông bằng xe môtô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm; học sinh, sinh viên chưa đủ tuổi, không có giấy phép lái xe vẫn điều khiển xe môtô, xe gắn máy; lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, mở đường ngang trái phép… còn xảy ra thường xuyên, phổ biến. Những vi phạm này là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông và là nguy cơ làm gia tăng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay.

II. Những thách thức tiềm ẩn về an toàn giao thông

Theo số liệu thống kê 2013, Việt Nam có 89.7 triệu người dân, với 9369 người thiệt mạng từ tai nạn giao thông, tương ứng với mức 10.4 người thiệt mạng/100.000 người dân/năm. So với mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về an toàn giao thông (giảm tỷ lệ thiệt mạng từ tai nạn giao thông xuống dưới 10/100.000 dân) thì Việt Nam đã chạm tay đến cột mốc này. So với mức thiệt hại do tai nạn giao thông bình quân trên thế giới (17/100.000 dân) Việt Nam đang ở mức thấp hơn nhiều.

Theo con số ước tính của WHO (dùng tiêu chuẩn thiệt hại trong vòng 30 ngày và có tính đến các vụ tai nạn không được thống kê), tỷ lệ người thiệt mạng/100.000 dân của Việt Nam đang ở mức 24 người/100.000 dân (Malaysia cũng có mức 24). Khi sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ người thiệt mạng/1 tỷ hành khách/km, Việt Nam đang ở mức 75 trong khi Malaysia ở mức 13. Điều này cho thấy xác suất bị thiệt mạng khi sử dụng phương tiện tham gia giao thông tại Việt đang cao hơn Malaysia gần 6 lần.

Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành tích rất ấn tượng về an toàn giao thông, môi trường giao thông vận tải tại Việt Nam còn tồn tại rất nhiều thách thức tiềm ẩn và Việt Nam có rất nhiều việc phải làm để đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

III. Phương hướng, nhiệm vụ đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong giai đoạn hiện nay

1. Mục tiêu

a. Tiếp tục giảm cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết, số người bị thương do tai nạn giao thông, đặc biệt chú trọng giảm tai nạn liên quan đến người sử dụng môtô, xe gắn máy.

b. Nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, xây dựng văn hóa giao thông trong cộng đồng.

 c. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông; nâng cao ý thức trách nhiệm của người thực thi công vụ về bảo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT).

d. Tiếp tục giảm số vụ ùn tắc giao thông ở các tỉnh, thành phố lớn đặc biệt là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Nhiệm vụ trọng tâm

a. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đối với công tác bảo đảm TTATGT, nhất là các biện pháp phòng tránh, hạn chế tai nạn xe môtô, xe gắn máy. Tiếp tục thực hiện chủ đề “Siết chặt hoạt động quản lý vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện” và “Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người thực thi công vụ”.

b. Tập trung nâng cao chất lượng xây dựng và kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không. Đồng thời nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT, trong đó tập trung vào quản lý kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải; đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe (GPLX); đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông; bảo đảm ATGT của kết cấu hạ tầng giao thông; tiếp tục tăng cường hoạt động kiểm soát tải trọng phương tiện.

c. Đẩy mạnh hoạt động tuần tra, kiểm soát (TTKS) và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm TTATGT, nhất là các hành vi vi phạm có nguy cơ cao gây TNGT. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của xe chở khách, xe chở quá tải trọng, của người điều khiển xe môtô, xe gắn máy. Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các sai phạm của người thực thi công vụ trong khi làm nhiệm vụ.

d. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về TTATGT tới mọi thành phần trong hoạt động giao thông vận tải, trong đó chú trọng vào tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho người thực thi công vụ; phổ biến quy định pháp luật và xây dựng văn hóa giao thông đối với chủ xe, lái xe kinh doanh vận tải, chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, đặc biệt là nhóm những người tham gia giao thông bằng môtô, xe gắn máy, xe đạp điện.

e. Tiếp tục nhân rộng các giải pháp đột phá về khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông được thực hiện thành công tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua và nâng cao hiệu quả quản lý trật tự đô thị. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phát triển vận tải hành khách công cộng, kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân, đặc biệt là giảm dần việc người dân phải sử dụng xe máy có các chuyến đi có cự ly dài trên các tuyến quốc lộ và các tuyến đường có lưu lượng giao thông lớn.

3. Giải pháp chủ yếu trước mắt

a. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm TTATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa; Nghị quyết số 30/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ; Kế hoạch triển khai Chiến lược quốc gia bảo đảm TTATGT đường bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 ở tất cả các cấp, các ngành. Hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá về  nhiệm vụ bảo đảm TTATGT.

b. Thực hiện các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm của người thực thi công vụ trong công tác bảo đảm TTATGT, thực hiện phương châm “4 xin” (xin chào, xin cảm ơn, xin lỗi và xin phép) và “4 luôn” (luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn thấu hiểu và luôn giúp đỡ), nhất là các hoạt động trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, như: đăng ký, đăng kiểm phương tiện; đào tạo, sát hạch cấp GPLX; tuần tra xử lý vi phạm; điều tra, giải quyết TNGT, cấp giấy phép vận tải.

c. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT

- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TTATGT, khắc phục kịp thời những bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, đẩy mạnh việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, phù hợp với nhiệm vụ bảo đảm TTATGT trong tình hình mới. Tập trung rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, điều kiện kinh doanh vận tải;

- Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT; tập trung vào quản lý kinh doanh và điều kiện kinh doanh tất cả các lĩnh vực vận tải; đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu thị phần và tăng cường kết nối các phương thức vận tải; tăng cường khai thác có hiệu quả các phương thức vận tải hàng hóa có sức chuyên chở lớn như đường thủy nội địa, đường sắt, vận tải biển để giảm áp lực cho vận tải đường bộ, chấm dứt tình trạng xe ôtô chở quá tải trọng;

- Tăng cường công tác cưỡng chế vi phạm TTATGT, tiếp tục duy trì và tăng cường các biện pháp kiểm soát tải trọng xe; xử lý vi phạm của người điều khiển môtô, xe gắn máy, tập trung vào các lỗi là nguyên nhân tăng tai nạn như: vi phạm quy định về tốc độ, nồng độ cồn; đi sai phần đường, làn đường, vi phạm về đội mũ bảo hiểm; xử lý các vi phạm về an toàn giao thông trong kinh doanh vận tải, tập trung xử lý chủ doanh nghiệp, chủ phương tiện kinh doanh vận tải bằng xe ôtô, đường thủy nội địa... Tiếp tục phối hợp các lực lượng thực hiện biện pháp phòng, chống đua xe môtô trái phép; kiên quyết điều tra, xử lý nghiêm minh trước pháp luật hành vi đua xe trái phép, tụ tập gây mất TTATGT, chống người thi hành công vụ;

- Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đào tạo, sát hạch, cấp GPLX, nhất là sát hạch lái xe môtô và lái xe kinh doanh vận tải; nhanh chóng hoàn thiện nội dung sát hạch cấp phép lái xe đảm bảo tiệm cận với tiêu chuẩn thế giới (bao gồm thực hành kỹ năng lái trên đường thực tế và kỹ năng dự đoán các tình huống nguy hiểm; đổi mới phương thức đào tạo và cấp bằng, chứng chỉ chuyên môn điều khiển phương tiện đường thủy nội địa, đặc biệt là các chứng chỉ cho người điều khiển phương tiện; kiểm soát chặt chẽ công tác đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, tăng cường bảo dưỡng phương tiện trong các đơn vị kinh doanh vận tải; kiên quyết đình chỉ các cơ sở, các doanh nghiệp vi phạm quy định, quy trình hoạt động, nếu sai phạm nghiêm trọng phải xử lý hình sự theo quy định của pháp luật, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định quản lý nhà nước về TTATGT, kiên quyết xử lý nghiêm cá nhân và tổ chức vi phạm;

- Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh vận tải, đặc biệt là vận tải bằng xe ôtô; Tiếp tục hoàn thiện Trung tâm thông tin quản lý vận tải đường bộ kết hợp với lắp đặt các camera giám sát hoạt động giao thông trên các tuyến quốc lộ trọng điểm, trước tiên là Quốc lộ 1, kết nối về Trung tâm và các Cục Quản lý đường bộ, chia sẻ dữ liệu vi phạm luật lệ giao thông cho lực lượng CSGT để xử lý vi phạm.

d. Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về TTATGT.

- Công tác tuyên truyền:

+ Sử dụng một cách hiệu quả, phát huy tối đa sức mạnh của mạng lưới truyền thông nhằm chuyển tải một cách trực quan sinh động dễ hiểu các thông tin, thông điệp kiến thức về an toàn giao thông đến cộng đồng.

+Huy động các cơ quan thông tin truyền thông, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan, đơn vị tích cực tuyên truyền pháp luật bảo đảm TTATGT; tuyên truyền sâu rộng đến cơ sở, từ xã phường đến thôn, bản, các khu công nghiệp...

+ Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền ATGT trên các phương tiện thông tin đại chúng (internet, truyền hình, truyền thanh, báo chí): tuyên truyền trực quan, tuyên truyền lưu động, sử dụng thông điệp, băng zôn, áp phích, khẩu hiệu, triển lãm tranh ảnh, các hội thi, vận động sáng tác âm nhạc, phim ảnh, văn học nghệ thuật về chủ đề ATGT; phát triển các ứng dụng tiện ích có gắn kèm với tính năng tuyên truyền về an toàn giao thông cho các thiết bị điện thoại thông minh/máy tính bảng.

+ Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến quy định của pháp luật về quản lý hoạt động vận tải khách và hàng hóa ở các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa trong các doanh nghiệp vận tải, đối với người điều khiển phương tiện;

+ Tổ chức các chiến dịch tuyên truyền theo chuyên đề: phòng, chống uống rượu bia đối với lái xe; tuân thủ quy định tốc độ; đội mũ bảo hiểm; quy tắc an toàn khi vượt qua đường sắt; hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt; điều kiện bảo đảm an toàn phương tiện thủy chở khách với các khẩu hiệu dễ nhớ, dễ làm theo.

        - Nâng cao chất lượng giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong trường học; giáo dục ý thức tự giác chấp hành pháp luật cho học sinh, sinh viên khi tham gia giao thông.

        -  Tổ chức cuộc vận động xây dựng Quỹ xã hội từ thiện “Chung sức vượt nỗi đau tai nạn giao thông”, kêu gọi sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm trang trải học phí, mua sắm sách vở, đồ dùng học tập và tạo việc làm cho con, em những nạn nhân không may qua đời vì TNGT.   

e. Giảm ùn tắc giao thông

- Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020; Đề án phát triển hợp lý các phương thức vận tải tại các thành phố lớn.

- Tiếp tục xây dựng thêm các cầu vượt tại một số nút giao thông trọng điểm của thành phố; tổ chức giao thông khoa học, hợp lý, phù hợp với cơ sở hạ tầng giao thông đô thị; điều chỉnh chu kỳ đèn tín hiệu giao thông phù hợp với lưu lượng phương tiện tại giờ cao điểm sáng, chiều; tăng các tuyến phố phân làn giao thông một chiều; phân tách làn phương tiện, bố trí làn đường dành riêng cho xe máy, xe buýt. Hạn chế một số loại xe ôtô lưu thông trên những tuyến đường trục giao thông có mật độ lớn, hay xảy ra ùn tắc trong giờ cao điểm; tăng cường đầu tư hệ thống giao thông tĩnh.

- Thiết lập trật tự, kỷ cương quản lý lòng đường, vỉa hè theo nguyên tắc vỉa hè dành cho người đi bộ, lòng đường dành cho phương tiện tham gia giao thông.

- Huy động các lực lượng quần chúng tham gia giữ gìn TTATGT, phối hợp cùng Thanh tra giao thông và các lực lượng của ngành Công an.

4. Các giải pháp dài hạn đến 2030

a. Phát triển các phương thức vận tải có tính năng an toàn cao như đường sắt, đường sắt đô thị, vận tải hành khách công cộng, vận tải phi cơ giới (xe đạp công cộng và đi bộ) với làn đường dành riêng, ôtô cá nhân (trong những mục tiêu chuyến đi thích hợp) đồng thời giảm dần các phương tiện vận tải có tính năng an toàn thấp như xe máy.

b. Quy hoạch sử dụng đất hợp lý, theo hướng hỗ trợ người dân tiếp cận và sử dụng vận tải công cộng thuận tiện hơn, tạo ra những chuyến đi có thể thực hiện bằng vận tải phi cơ giới qua đó giảm thiểu nhu cầu đi lại không cần thiết bằng phương tiện vận tải cơ giới cá nhân.

c. Chuẩn hóa số liệu thống kê về an toàn giao thông bằng việc thể chế hóa quy trình cung cấp, báo cáo và chia sẻ thông tin về tình hình an toàn giao thông của các tổ chức có liên quan, bao gồm: cảnh sát giao thông, hệ thống y tế (bệnh viện), các công ty bảo hiểm và ngành tư pháp (quản lý hộ tịch), qua đó có thể kiểm tra chéo số lượng người thiệt mạng từ tai nạn giao thông.

d. Phát triển thị trường bảo hiểm như một công cụ về kinh tế để điều tiết hành vi của người tham gia giao thông. Đảm bảo thị trường bảo hiểm này được vận hành theo cơ chế thị trường, có môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai minh bạch. Đây cũng là mô hình đã được áp dụng thành công tại rất nhiều nước phát triển trên thế giới.

e. Nâng cao dân trí của người dân về an toàn giao thông, thể hiện qua việc người dân tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông và cơ quan quản lý có đủ năng lực để xử lý những trường hợp vi phạm. Hai nội dung này thường đi liền với nhau. Để xử lý được vi phạm (đặc biệt xử lý nguội), cơ quan quản lý cần biết thông tin về phương tiện và người lái/chủ sở hữu phương tiện theo địa chỉ cụ thể. Do đó việc xây dựng mã số bưu chính, quản lý xe chính chủ, quản lý người sử dụng phương tiện có một vai trò cực kỳ quan trọng. Trong đó mã số bưu chính cho từng địa chỉ cần được xây dựng trước tiên.

f. Quy định rõ hơn quyền hạn, nguồn lực, quyền lợi và trách nhiệm của cá nhân trong việc đảm bảo an toàn giao thông đặc biệt là chủ tịch UBND và Giám đốc sở GTVT tại các địa phương.

g. Cho phép người dân cộng đồng thực sự tham gia vào quá trình xây dựng hoạch định các chính sách liên quan đến an toàn giao thông.

h. Có cơ chế thu nhận thông tin phản hồi của người dân về an toàn giao thông. Xây dựng trung tâm cứu hộ quốc gia với một số điện thoại duy nhất, đảm bảo năng lực xử lý và lưu trữ toàn bộ các cuộc đàm thoại. Quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của cá nhân trong xử lý thông tin phản hồi. Thể chế hóa quy trình xử lý thông tin và tốc độ xử lý thông tin phản hồi.

i. Thành lập một tổ chức kiểm định an toàn giao thông đối với phương tiện, hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận và độc lập (có thể do hiệp hội các nhà sản xuất ôtô tài trợ) để tiến hành kiểm định độc lập về an toàn với các phương tiện giao thông đường bộ lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam.

j. Đưa nội dung an toàn giao thông thành một môn học chủ đạo trong chương trình đào tạo các ngành về kiểm định, quy hoạch, thiết kế cơ sở hạ tầng, thi công xây dựng, giám sát vận hành, bảo trì bảo dưỡng trong các trường đại học cao đẳng.

TS. KHUẤT VIỆT HÙNG - Phó Chủ tịch Chuyên trách Ủy ban ATGT Quốc gia

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: "Tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến quốc lộ 1A - Thực trạng và giải pháp giảm thiểu tai nạn".

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi